25/05/2026
Truyện ngắn:
H Ã Y B A Y V Ề T R Ờ I
Tác giả: Nguyễn Vũ Anh
Cạnh dòng sông Cà Ty có một xóm nghèo ven sông với nhiều ngôi nhà mái tôn, nhà chồ giống nhà sàn…với nhiều hình dạng, thường mọc lên chen chúc nhau. Trong đó, có một ngôi nhà tôn nhỏ xinh, nép mình dưới bóng hai cây huỳnh đàn cao lớn, xum xuê xanh lá…Tới mùa nó nở hoa, trên cây rợp những chuổi hoa vàng rực rỡ, tỏa hương thoang thoảng trong gió. Chủ ngôi nhà ấy là một cặp vợ chồng dân lao động nghèo có hai con: thằng anh tên Cu Nhất, năm đó chừng tám chín tuổi, còn em nó, tên Bé Trâm cỡ năm tuổi. Họ đến sống ở vào đầu những năm bảy mươi, Nghe đâu, họ từ Miền Trung trôi dạt vào. Phan Thiết thời ấy là nơi đất lành, để chim đậu, nơi mà những ngành chính như: nông ngư nghiệp, lâm nghiệp… đều khá phát triển. Người dân hiền hòa, chịu khó làm ăn… Nhiều hàm hộ mang tiếng là nhà giàu, có hàng trăm thùng lều nước mắm… nhưng lúc nào cũng làm việc quần quật suốt ngày. Tỉnh Bình Thuận là một vùng đất: mưa thuận, gió hòa, rừng vàng, biển bạc nên cuộc sống nơi này thật dễ chịu. Chắc nhờ vậy mà mảnh đất này đã níu chân họ lại.
Trên nhánh huỳnh đàn sà xuống mái tôn , một con vẹt xanh đang nghiêng mình trong đám lá. Nó lúc lắc cái đầu, đong đưa cái đuôi màu lá mạ thật duyên dáng. Nghe mấy tiếng “ két, két” vọng ra từ góc sân, nó hối hả đáp lại“ két, két” và nghiêng nghiêng mắt nhìn.
Nãy giờ Cu Nhất đang ngạc nhiên vì tiếng kêu lạ tai ấy. Nó đảo mắt tìm và nhìn thấy một con két rất đẹp, đẹp gấp mấy lần con két cậu ta đang nuôi.
Cu Nhất thầm nghĩ: “Phải cố gắng bắt cho được chú két này cho Bé Trâm”. Cậu chạy vội vào nhà kéo một em gái nhỏ ra thầm thì và chỉ lên nhánh huỳnh đàn:
- Nó kìa, mày thấy đẹp không?
- Ờ, ờ em thấy rồi. Đẹp quá anh ơi , bắt cho em đi nào!
- Khẽ thôi, coi chừng nó … bay mất bây giờ!
- Anh bắt nó cho em nhé!
- Ừ, em cứ đứng dưới này kêu “két, két…” dùm anh nhen!
- Chi vậy anh?!
- Để nó mãi đáp “ két, két…” không để ý đến anh, lúc đó, anh mới bắt nó được.
- Dạ…
Cu Nhất nhanh như một con sóc, leo tót lên mái tôn trong nháy mắt. Nó thu mình ngồi chờ em nó giả tiếng “ két , két”. Giờ phút chờ đợi lúc này đối với cậu bé thật dài. Rồi sau một tiếng tằng hắng là sáu tiếng : “két , két” “ két , két” “ két , két” của Bé Trâm cất lên. Con két trên cây họa lại trong trẻo hơn. Con két Cu Nhất đang nuôi trong lồng cũng họa lại vài tiếng “ Két , két” bâng quơ. Cả “ba con két” đang cùng xướng lên làm náo nhiệt cả một góc vườn. Cu Nhất nhích lại gần con két, nhưng gió lại thổi làm đong đưa cành lá. Cu Nhất cứ sợ chim bay mất, tim cứ đập thình thịch chờ đợi thời gian chậm chạp trôi đi. Chú két rừng thơ ngây vẫn mãi mê trò chuyện: “ Két, két”…Cu Nhất sợ cử động mạnh chim sẽ bay mất nên nhích đến gần từng chút … nhưng bỗng dưng đám lá khô lại xào xạc trên mái tôn. Con két ngừng kêu, nghiêng tai nghe ngóng. Bé Trâm cũng hồi hộp quá nên quên không giả tiếng két kêu nữa. Cu Nhất thấy chim nhìn mình nên lấy hai tay che mắt lại (vì nó cho rằng nhìn mắt người chim sẽ hoảng sợ). Cuối cùng giờ phút hành động cũng đến, cậu nín thở…rồi chồm đến chụp con chim. Con két kêu thất thanh và ra sức vùng vẫy. Nó lấy cái mỏ cứng quặp vào tay Cu Nhất, nhưng cậu ta không chịu buông ra, cố chịu đau để bắt cho được con két.
Cu Nhất reo lên :
- Bắt được rồi…được mày rồi nè.
- Anh ơi mang xuống cho em đi nào!
Cu Nhất thoăn thoắt leo xuống và chìa chú két cho Bé Trâm bằng hai tay:
- Nè của em nè…
- Ôi con két đẹp quá anh Nhất hén.
Bé Trâm không dám cầm, nó chỉ vuốt vào bộ lông xanh mướt và nựng cái mỏ màu cam của con két. Con bé thích chí cười ngoặt nghẽo, nó chúi mũi vào lồng chim trò chuyện :
- Két lùn ơi! Mày có bạn rồi đó mừng hén, mày nhớ có bạn là không được giành ăn với bạn nhé!
- Két két…
- Két két…là hai hai con két…
- Két két…
- Chuối của mày nè… Ê…, Két Lùn để cho bạn ăn, không chị đánh đòn nhé!
- Két két…
- Két lùn ơi, mày đến làm quen với nó hả? …Bạn mới xinh quá hén?
Nghe Bé Trâm thủ thỉ với con chim, lòng Cu Nhất rất vui. Thấy bé Trâm chia phần cơm của mình cho con két, Cu Nhất hỏi:
- Sao em lấy cơm cho nó ăn?
- Dạ, em no rồi.
- Ừ tí nữa đói bụng, em không được khóc đòi ăn nhé!
Nó ưỡn bụng khoe với anh nó:
- Bụng bự ơi… là bự nè…
- Mày mà ham chơi là bỏ ăn luôn… là má đánh đó.
Buổi tối nằm bên cạnh em, lòng Cu Nhất rộn vui khi nghe mấy tiếng “ két, két” khe khẽ thốt lên từ cánh môi hồng chúm chím của em nó. Cậu bé nhớ lại kỷ niệm về con Két Lùn. Hôm ấy, ba nó đi làm về, vẫn túi đồ mộc như mọi ngày nhưng ông còn lấy ra thêm một bao giấy nhỏ nữa. Ông bảo: “ Đứa nào đoán được cái gì trong này, ba sẽ cho”. Cu Nhất không đoán ra nhưng Bé Trâm lại đoán được: “ Hay trong đó có… con két?!” Ông rất ngạc nhiên, cười to và âu yếm ôm Bé Trâm vào lòng. Lúc đó Két Lùn là một chú chim con mới ra ràng, đám lông con lún phún trên lưng, cánh cụt và đuôi cũng ngắn ngủn… trông thật xấu xí , buồn cười. Ngày ngày anh em Nhất thay nhau chăm sóc cho chim, chia cho nó từng phần quà hiếm hoi của mình.
Thời gian trôi qua, những búp lông chui ra khỏi ống, phủ lên mình chim một màu xanh mạ non mơn mởn, cái ức màu xanh da trời, đeo vào cổ chim chuỗi hạt huyền lấp lánh. Tuy vậy, chú két vẫn không lớn thêm bao nhiêu cả, nên cái tên“ Két Lùn” được anh em Cu Nhất đặt cho nó từ dạo ấy.
Vào một buổi sáng bình thường như những buổi sáng đã đi qua căn nhà chật hẹp của Cu Nhất, ba cậu dậy rất sớm, xách túi đi làm thuê. Hai con két cũng thức dậy từ lúc nào. Chúng cứ kêu “ két , két…”cùng với tiếng “ ò...ó…o…” của đám gà trống gáy vang, báo hiệu buổi sáng bắt đầu. Mẹ Nhất gánh bắp hầm đi bán dạo. Buổi trưa, anh em nó lục cơm mẹ nấu sẵn ra ăn, đến chiều tối cha mẹ nó mới về.
Mùa hè trở về mang theo nhiều trận mưa rào thật to, trút xuống những mái nhà lợp tôn dột nát trong xóm nghèo của Cu Nhất. Đám trẻ con bắt đầu mùa tắm mưa vui vẻ. Cu Nhất đứng cạnh em nó trên một tấm ván chông chênh, nhìn ra đường. Chúng ngắm những con vụ mưa quay tít trên mặt đường mà lòng bồn chồn náo nức. Gió tạt làm bay những hạt nước nhỏ li ti lên tóc Bé Trâm. Nhất giữ em còn nhiều hơn mẹ, nên đã có thói quen chìu chuộng em… Con bé thò tay ra ngoài hiên nhà hứng nước, miệng nài nỉ:
- Cho em đi tắm mưa đi anh Nhất, mưa chắc mát lắm phải không anh?
- Không được! Mày tắm má la tao.
- Không sao đâu, cho em tắm một chút thôi mà!
- Mày đòi nữa… tao quánh đó!
Bé Trâm đứng buồn thiu. Nó không hứng nước mưa nữa mà cứ khóc ngon, khóc lành. Nước mắt nó cứ muốn ngắn dài như mưa ngoài trời đang tuôn đổ. Trong ước muốn bảo bọc che chở, Cu Nhất lại cảm thấy khổ sở vì đã làm cô em nhỏ buồn nhưng nó vẫn đứng yên, nhất quyết không chìu ý con bé.
Đám trẻ con trong xóm nô đùa làm nước mưa bắn tung toé. Chúng trần truồng như nhộng chạy khắp xóm. Vài đứa chạy đến nhà Cu Nhất kêu réo:
- Cu Nhất ơi, mày ra tắm với tụi tao đi, mưa đả lắm…
- Tao không tắm đâu… Má tao không cho tắm mưa.
- Mày nhát quá … tắm mưa mà cũng không cho.
- ………………
- Tụi tao đi lượm khế nhà Ông Chín rụng, mày có đi không?
- Tụi mày đi đi, tao mắc giữ em.
- Cho em mày tắm luôn, vừa tắm vừa giữ có gì đâu.
- Đi anh Nhất, tắm mưa đi anh! Con Hoa nó cũng tắm kìa!
Trước những lời rủ rê của bạn bè, lời nài nỉ của Bé Trâm, Cu Nhất đã xiêu lòng. Cu Nhất nhanh chóng cởi phăng quần áo của mình và Bé Trâm rồi ùa ra đường trong làn mưa tầm tã không ngớt. Cu Nhất đã trở về với vai trò thủ lĩnh, kéo đám trẻ con theo nó chạy đi lượm khế. Trước khi đi nó không quên dặn em:
- Mày tắm trước nhà thôi, không được đi xa nhen!
Bé Trâm gật đầu. Nó nhảy tung tăng bên dưới các mái hiên nước như những con vụ mưa đang nhảy múa. Hai cái bím tóc ngút ngoắc và ướt sũng trong mưa. Cái đầu như con dế nhủi vì tóc đã bị nước mưa ép sát vào. Nó ngửa mặt lên trời đón những hạt mưa, rồi cười sặc sụa vì mưa chui cả vào mắt, vào mũi, vào tai. Cô bé chạy đến những máng xối đang tuôn nước ào ào, hòa với lũ bạn, lớn có, nhỏ có đang chen chúc tắm. Chúng nô đùa, tạt nước và ù té trong những vũng nước đục ngầu, tràn ngập giữa lòng đường. Lũ trẻ rượt đuổi nhau ra đến tận bờ sông lúc nào chẳng rõ. Mưa vẫn rơi tầm tã, nước từ thượng nguồn đổ về dòng sông Cà Ty đầy ắp và chảy xiết.
Sau những năm 75, Phan Thiết còn nghèo lắm, đường sá lầy lội, hư hỏng, bờ sông bị sạt lỡ nặng. Nhiều lỗ cống cạnh bờ sông bị hư nắp. Không hiểu sao thời ấy, thị xã thường hay bị ngập lụt, cúp điện, thiếu ăn, thiếu mặc... Khi mùa mưa về, nước từ thượng nguồn chảy xuống ào ạt rất mạnh. Nước mưa ngập đường, kéo rác rưởi chạy xuống mấy lỗ cống theo hình trôn ốc.
Đám trẻ con vui đùa, nghịch ngợm quanh những cái xoáy nước nguy hiểm ấy một cách rất vô tư. Bé Trâm nhỏ nhất trong đám nhưng hăng hái không kém ai. Nó hiếu động chạy nhảy và vui cười như nắc nẻ. Bỗng nó nhìn thấy một con búp bê cũ của ai bị cuốn trôi theo dòng nước. Con bé chạy theo lượm. Nó với theo khi búp bê sắp đến gần miệng cống, rồi mất thăng bằng ngã nhào xuống theo. Lũ trẻ phát hiện ra ngay. Con Hoa mếu máo khóc:
- Con Trâm … con Trâm lọt xuống cống rồi , nó đâu mất rồi…! Cứu … nó…
Khi chạy đến nơi, chúng chỉ kịp thấy hai cái bím tóc và đôi tay chới với xoay tròn và chìm nghỉm trong cái lỗ cống đen ngòm, toang hoác như miệng khủng long nuốt chửng lấy con bé.
Bà con trong xóm chạy ra, rồi nhảy xuống cống mò mẫm, tìm kiếm. Có người chạy đến đoạn cuối của cống ngầm, nơi đổ ra sông, đón vớt con bé nhưng chờ mãi vẫn không thấy nó đâu, thấy vậy họ đặt nhiều nghi vấn, bàn tán:
- Không biết nó bị cuốn ra sông chưa, hay còn bị mắc kẹt trong cống ngầm?!
Cu Nhất không biết được ai báo tin chạy đến, mặt mày hớt hãi, nước mắt ràn rụa:
- Các chú ơi cứu dùm em con đi, em con đâu rồi? Các chú ơi… em con đâu?
Nhìn thằng bé mình mẫy ướt sũng, môi tím tái, quay quắt tìm em trong cơn tuyệt vọng nhiều người ứa nước mắt.
Khi mưa tạnh, người ta tìm thấy xác con bé trôi ra tận cửa sông. Ai cũng không ngờ nó bị nước cuốn đi nhanh như vậy?
Xác con bé được vớt lên, đặt bên trong một cái miếu của Hội Thợ Cưa, nơi ba nó vẫn hay đến làm lụng, cưa gỗ... Vì tục lệ nơi đây nói rằng: “Chết trôi nên không cho mang xác về nhà (kỵ đòn giông) và không cho cả người thân gặp mặt...”
Nên cha mẹ con bé chỉ biết khóc vật vã ngay trước cửa miếu, còn bị vài người giữ lại can ngăn không cho vào nhìn mặt bé, Cu Nhất cũng ngồi gần đó, mặt thất thần, bất giác quay sang hỏi mấy đứa bạn:
- Em tao lạnh lắm, có ai cho nó ăn không?
Đám bạn cãi lại:
- Chắc nó không lạnh đâu, cũng không đói! Tụi tao thấy: người ta đốt đèn cày, hơ cho nó khô, cúng cho nó cơm với trứng luộc và chuối sứ.
Có lẽ do bọn trẻ nhìn thấy: mấy nắm cơm vắt, vài cái trứng luộc đặt trên đầu nằm và một nải chuối sứ nhỏ, được đặt trên bụng của con bé, nên mới nói như vậy?
Đêm ấy cả cái xóm nghèo cạnh bờ sông hình như hoang mang không thể ngủ, họ ngồi quanh ngôi miếu an ủi gia đình Cu Nhất. Họ quyên góp mua cho con bé một chiếc hòm nhỏ, xinh xắn như một chiếc rương có hai chữ vạn ở hai bên. Những chiếc ghe đuôi tôm nổ máy kêu lạch bạch trong thanh vắng, như những đoạn hài trong một bi kịch, cố tình làm vơi đi nỗi buồn một cách gượng gạo.
Cu Nhất cũng nằm thao thức, hụt hẫng vì thương đứa em quá. Hình ảnh lúc Bé Trâm, chưa đầy một tuổi hiện về trong đầu nó… Mẹ đi bán xôi suốt ngày nên nó phải giữ em. Bé Trâm khát sữa khóc hoài, cái núm vú bằng cao su, cứ bị lừa ra khỏi miệng vì nó nhận ra không có giọt sữa nào, cứ khóc ré lên. Cu Nhất nóng lòng quá, dỗ mãi vẫn không nín, nó ôm em ngồi khóc, còn bé con không hiểu vì sao lại im re, mở mắt tròn xoe nhìn anh. Thế là mỗi khi bé khóc, Cu Nhất lại áp dụng mưa kế giả vờ khóc theo để nó nín...Cũng lạ thật, vậy mà rất hiệu quả. Cu Nhất hay chơi đùa với em, trò thổi bụng bé kêu “bộp, bộp…” làm nó cười tít mắt, hở luôn hai răng sữa. Cu Nhất làm ngựa, làm bò chở em nó cưỡi, dạo quanh giường: “Nhong nhong… nhong nhong ngựa ông đã về
Cắt cỏ bồ đề cho ngựa ông ăn”…
” Ủm bò… Ủm bò…!”
Rồi mới đây, giọng Bé Trâm như còn văng vẳng bên tai: “Em đặt tên cho nó là “Két Cọt” anh nhé, vì nó cũng đẹt giống như con Két Lùn nhà mình…ha.ha…”. Nhớ đến đó, hai giọt nước mắt nặng trịch của Cu Nhất lăn xuống ướt mặt gối … Rồi như vừa nhận ra điều gì, nó quay sang hỏi mẹ: “Bé Trâm có được lên thiên đàng không mẹ?”. Mẹ Cu Nhất gật đầu, rồi ôm nó vào lòng. Cậu bé mệt quá đã thiếp đi trong tiếng khóc uất nghẹn của người mẹ quanh năm tảo tần. Vào cái thời bao cấp, ngăn sông, cấm chợ, bà mẹ nghèo suốt ngày buôn gánh, bán bưng… chạy gạo từng bữa nuôi gia đình, thì còn đâu thời gian lo cho con cái?
Sáng hôm sau, người ta mang em nó đi chôn. Không có xe tang, kèn, trống đưa tiễn như những đám ma khác, vì nhà nó quá nghèo. Cả nhà và một số người hàng xóm cùng chất lên một xe trung, chạy bằng than đá cùng với chiếc hòm nhỏ có em nó, thoáng một cái, xe đã mất hút trong bụi đường… Cu Nhất quên hết, chẳng nhớ một điều gì ngoài việc: nhìn thấy người ta bỏ em nó xuống một cái hố và lấp đất lại. Nó đã khóc thét lên: “ Đừng chôn em con, đừng chôn mà…”. Ba má cậu bé ngồi bên huyệt mộ, liệng xuồng những nắm đất, khóc không thành tiếng...
Chôn cất xong, xe thả xuống xóm nghèo, mọi người ai về nhà nấy. Trong nhà chỉ còn tiếng khóc ray rứt của mẹ. Tiếng khóc ấy kéo dài triền miên mấy tháng trời, như một làn khói màu xám, vắt qua những ngày thơ ấu vốn đã u buồn của cậu bé.
Hôm sau, cu Nhất lủi thủi chui vào góc hè nhỏ, nơi cậu vẫn thường ngồi chơi cùng với Bé Trâm. Cậu bé thẩn thờ nhìn lồng két đã bị bỏ quên hơn một ngày qua. Cậu bé giật mình, thảng thốt khi thấy con “Két Lùn” đã nằm chết rũ từ lúc nào, còn con “Két Cọt” mắt dáo dác, hai chân thoăn thoắt chạy quanh lồng. Cậu bàng hoàng thò tay vào lồng bốc xác Két Lùn ra. Cái lạnh từ thân xác bé nhỏ ấy làm cậu bé khẽ rùng mình. Những giọt nước mắt mằn mặn, bất giác tuôn rơi. Lòng lại càng buồn thêm, khi cầm trên tay xác con két yêu quý của mình, nhưng bỗng nhiên cu Nhất chợt nghĩ: “Hay Két Lùn đã lên trời với Bé Trâm cho có bạn?”.
Cậu run run, đắp nấm mộ nho nhỏ sau nhà cho két, bằng những nằm đất và những giọt nước mắt ấm nồng nhỏ xuống. Bất giác, trên chiếc mũi hếch có tàn nhang, một tiếng thở dài thườn thượt… phát ra. Dường như nỗi bất hạnh đã làm già cỗi trái tim thơ ngây của cậu bé.
Cu Nhất đem thức ăn cho Két Cọt. Con chim mừng cuống quýt và cắn mổ ngấu nghiến, nhưng phút chốc nó lại ủ rũ, rồi ngửa mặt lên trời kêu mấy tiếng “két két…két két...” thật não lòng. Không biết có điều gì trong tiếng kêu ấy mà sao thật buồn bã ? Ý nghĩ: “Hình như trong tiếng két kêu của chim, có lẫn với tiếng kêu quen thuộc của Bé Trâm hôm nào?”, khiến Cu Nhất cảm thấy đau nhói trong lòng! Một cảm giác mơ hồ nhưng thật hụt hẫng. Bất chợt, Cu Nhất nhìn con chim rồi đến chiếc lồng sắt. Cậu bé ngây người suy ngẫm rồi nhận ra thật rõ một điều: “Nếu mình nhốt Két Cọt trong này, không khéo nó lại chết mất…”. Đôi mắt cậu bé bừng lên một cách lạ thường, nó dường như vừa thức tỉnh. Không muốn nhìn thấy thêm sự chết chóc nào nữa, Cu Nhất vội vàng mở tung cửa lồng chim, quờ quạng tìm con két còn lại. Cậu bé trìu mến vuốt ve con chim một lần cuối, rồi tung nó lên không trung. Bất ngờ quá, nên con két hơi chới với, rồi kịp gượng bay lên cao. Chim đậu lại trên nhánh huỳnh đàn nghiêng đầu nhìn Cu Nhất như thầm cảm ơn người đã trả tự do cho mình, rồi nhẹ nhàng tung cánh bay vút vào khung trời mênh mông.
Dõi theo cánh chim đang náo nức tìm về với bầu trời cao rộng, tìm về nơi tổ ấm. Bóng chim tung bay mờ xa, như một nỗi đau vừa được phóng sinh, lòng Cu Nhất bỗng dưng thấy thanh thản lạ thường. Nỗi đau lắng dần trong niềm vui và hạnh phúc vừa tìm thấy.
Cậu có cảm giác như một buổi sáng vừa thức dậy, được nghe tiếng “cút cu … cút cu…” của con chim gỗ ló đầu ra từ ô cửa sổ nhỏ trên chiếc đồng đồ, nhìn thấy một khoảng trời màu xanh, bình yên, dịu mát.
Lưng trời còn vang vọng mấy tiếng “két, két…”, rồi tan dần vào không gian bao la…
( Đăng trong Tạp chí VĂN NGHỆ BÌNH THUẬN,
Số 114 tháng 7-8/2003)
Tranh sơn dầu C Õ N G
80x100 Cm
Tác giả Vũ Anh