Nguyen Vu Anh Painting Art

Nguyen Vu Anh Painting Art Nguyen Vu Anh Painting Art. Paint your smile by happiness, paint your love by feeling and paint your life by peacefulness.

Nguyễn Vũ Anh

Sinh năm 20/01/1963
Hiện ở tại Sunrise Riverside Plaza, Phước Kiến, Nhà Bè, HCMC, Việt Nam

Học cử nhân toán - tin học và kỹ thuật viên xét nghiệm, nhưng do đam mê hội họa nên tôi đã theo học từ nhiều họa sĩ trong hai năm và chủ yếu là tự học. Bắt đầu công việc năm 2011
Là một trong 10 họa sĩ vẽ chung một bức tranh đạt kỷ lục Tranh về Phật Giáo lớn nhất Việt Nam
Tham gia 10 triển l

ãm chung trong nước. Là họa sĩ và ca sĩ tự do sinh sống bằng nghề vẽ tranh và ca hát. Nguyen Vu Anh
- Born January 20, 1963
- Address: Sunrise Riverside Plaza, Phuoc Kien, Nha Be, HCMC, Vietnam

- I studied for a Bachelor computer of science and a testing technician, but I was passionate about painting so I studied from many painters for 2 years and mostly taught by myself.
- Started work in 2011.
- As one of 10 painters to paint a picture of the largest Buddhist painting in Vietnam.
- Participate in 10 general exhibitions in the country.
- Freelance painter and singer living by painting and singing.

With My Lan Pham – I just got recognized as one of their top fans! 🎉
14/06/2026

With My Lan Pham – I just got recognized as one of their top fans! 🎉

⭐️🩷 D Ạ   K H Ú C  C H O  T Ì N H  N H Â N 🌷⭐️Năm 1968, trong hoàn cảnh chiến tranh loạn lạc, Lê Uyên và Phương có thể g...
10/06/2026

⭐️🩷 D Ạ K H Ú C C H O T Ì N H N H Â N 🌷⭐️

Năm 1968, trong hoàn cảnh chiến tranh loạn lạc, Lê Uyên và Phương có thể gặp nhau lần cuối rồi chia ly mãi mãi, nhạc sĩ đã sáng tác "Dạ khúc cho tình nhân".
Bản tình ca là lời tự tình về khát vọng yêu thương mãnh liệt giữa con người, vượt lên trên nỗi hoang mang, sợ hãi về cái chết và sự chia ly, mang đậm tính triết lý.

Sáng tác: Ns. Lê Uyên Phương
Trình bày: Nguyễn Vũ Anh
Video Editor: Valiant Nguyễn
Thu âm: Đức Luân Stutio
✨⭐️🧡✨

https://youtu.be/ir7wB9BIyi8?si=9ODjJer7t93N3yG1

Enjoy the videos and music you love, upload original content, and share it all with friends, family, and the world on YouTube.

08/06/2026

Nhạc sĩ Cung Tiến: Cây đại thụ trút lá lặng lẽ

Những người thân cận với gia đình của nhạc sĩ Cung Tiến đều biết ông đã qua đời ngày 10 Tháng Năm, nhưng đến ngày 4 Tháng Sáu, sau khi hậu sự hoàn tất, gia đình mới đăng cáo phó. Những người thân biết ngày qua đời của nhạc sĩ cũng được dặn dò là xin hãy giữ yên lặng cho đến khi hoàn tất tang lễ.

Khi mất, nhạc sĩ Cung Tiến hưởng thọ 83 tuổi, và lễ hỏa táng thực hiện vào ngày 2 Tháng Sáu, ở Nam California. Ông để lại cho đời nhiều tác phẩm cao quý như bài học mở đường của tân nhạc Việt Nam, đồng thời đóng góp nhiều công sức của mình cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nơi ông giữ chức Tổng Giám đốc Kế hoạch và Dự án, hoạt động như kinh tế gia, giúp cho Bộ tài nguyên và Thiên Nhiên Minesota nhiều năm, sau khi tỵ nạn từ 1975.

Với giới chức cũ của Việt Nam Cộng Hòa, nhạc sĩ Cung Tiến được nhớ đến như là một trong ba Tổng Giám đốc trụ cột của Bộ Kế hoạch trước năm 1975. Còn với giới văn nghệ, ông được đánh giá không khác gì một thần đồng âm nhạc. Từ khi đi di tản sau 1975, nhạc sĩ Cung Tiến chưa có lần nào về Việt Nam, cũng như được biết ông từ chối nhiều lời mời phỏng vấn từ Việt Nam hoặc về nước tham dự biểu diễn.

Nhạc sĩ Cung Tiến tên thật là Cung Thúc Tiến, sinh ngày 27 Tháng Mười Một 1938 tại Hà Nội. Thời kỳ trung học, Cung Tiến học xướng âm và ký âm với hai nhạc sĩ nổi tiếng Chung Quân và Thẩm Oánh. Trong khoảng thời gian 1957 đến 1963, Cung Tiến du học ở Australia ngành kinh tế và ông có tham dự các khóa về dương cầm, hòa âm, đối điểm, và phối cụ tại nhạc viện Sydney. Từ năm 1970 đến 1973, với một học bổng cao học của Hội đồng Anh (British Council) để nghiên cứu kinh tế học phát triển tại đại học Cambridge, Anh, ông đã dự các lớp nhạc sử, nhạc học, và nhạc lý hiện đại tại đó.

Ngoài sáng tác, ông còn là nhà hòa âm, soạn khí nhạc, hợp xướng… và chơi được các nhạc cụ như sáo, mandolin, guitar và piano.

Tài năng âm nhạc của nhạc sĩ Cung Tiến bộc phát trong một gia đình không có ai theo nghệ thuật. “Cụ thân sinh tôi là một nhà thơ, một nhà cách mạng. Ông theo Việt Nam Quốc dân Đảng, không có ai dính vào âm nhạc nhất là âm nhạc mới, không có ai cả”, nhạc sĩ Cung Tiến lưu bút.

Trong lớp nhạc sĩ đầu thế kỷ, với những khúc tân nhạc hoàn chỉnh như Đặng Thế Phong, Văn Cao, Đoàn Chuẩn..., nhạc sĩ Cung Tiến là người hiếm hoi viết hoàn chỉnh ca khúc ở năm 14 tuổi (1953). Bài Hoài Cảm - cũng là ca khúc đầu tay của ông, mà theo tâm tình lúc sinh thời là lúc đó, ông mới học đệ lục và là một học sinh chịu nhiều ảnh hưởng thơ mới lãng mạn của Huy Cận, Xuân Diệu ….”Riêng với tôi nó là đứa con đầu lòng vẫn còn được thính giả yêu thích tôi vẫn thích vì nó giản dị và là một thời học trò của mình”, lời của nhạc sĩ Cung Tiến.

Nhạc sĩ Cung Tiến cũng là người dùng từ ngữ mô tả mãnh liệt nhất, và đầu tiên: “lòng cuồng điên vì nhớ” cho một nỗi nhớ nhung của một thiếu niên về tình yêu đầu đời. Vào lúc bài hát ra đời cũng có nhiều người không quen và cảm thấy khó chịu với sự mô tả hết sức dữ dội này. Nhưng rồi dần người ta nhận thấy rằng đó là cách diễn đạt chân thành và không kém phần tinh tế khi hoán đổi “điên cuồng” thành “cuồng điên” - khiến khung cảnh bài hát cũng nhẹ nhàng, bay bổng hơn. Nhà thơ Du Tử Lê từng gọi đó là cách sắp xếp đầy mỹ cảm về phương diện tu từ học (rhetoric).

Nhiều người khi biết về ông đều ngạc nhiên, vì sao có một kinh tế gia và một nhạc sĩ xen lẫn trong cuộc đời một con người. Thế nhưng khi tìm hiểu sâu thêm về bối cảnh xã hội và cuộc đời của nhạc sĩ Cung Tiến, người ta lại càng thán phục. Là một nhạc sĩ và có tinh thần hiếu học, ông chỉ muốn mình được học sâu và cao hơn về âm nhạc. Thế nhưng lúc đó các con đường du học và cấp học bổng chỉ có cho kinh tế. Vì vậy, nhạc sĩ Cung Tiến quyết định thi lấy học bổng kinh tế để đi nước ngoài du học rồi bên cạnh đó sẽ tìm hiểu và học thêm âm nhạc ở xứ người. Và từ đó chính quyền Việt Nam Cộng hòa có thêm một nhạc sĩ và một kinh tế gia tài giỏi.

Nhưng không phải ai cũng biết rằng nhạc sĩ Cung Tiến còn là một nhà văn và là một dịch giả. Ông có thời gian cộng tác chặt chẽ với nhóm Sáng Tạo, một nhóm tiền phong về văn hóa nghệ thuật của những người miền Bắc di cư vào Nam sau năm 1954. Nhiều người trong nhóm Sáng Tạo đã dựng nên một góc trời văn chương cho người Việt, trong đó có Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền … Bút danh của nhạc sĩ Cung Tiến lúc đó là Thạch Chương, ông tham gia cả mảng sáng tác, nhận định và phê bình văn học. Ông có dịch hai đại tác phẩm của hai văn hào Nga là Fyodor Mikhailovich Dostoevski và Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn ra Việt Ngữ. Đó là Hồi Ký Viết Dưới Hầm (bản dịch tác phẩm của M. Dostoievski, 1969) và Một Ngày Trong Đời Ivan Denissovitch (dịch từ A. Solzhenitsyn, 1969). Riêng về Một Ngày của Ivan Denissovitch kể về những gì xảy đến cho một người tù cải tạo tên Ivan Denissovitch trong một ngày dưới chế độ bạo ngược cộng sản Stalin.

Năm 1956, nhân 200 năm ngày sinh của thiên tài âm nhạc Mozart, tổng thống Ngô Đình Diệm có tổ chức một buổi hòa nhạc với sự tham gia của nhiều nghệ sĩ tên tuổi. Lúc đó nhạc sĩ Cung Tiến chỉ mới gần 18 tuổi, nhưng vì nghe danh tiếng của ông, đích thân tổng thống Ngô Đình Diệm đã viết thư mời ông tham dự. Trong tâm tình với báo chí về sau, nhạc sĩ Cung Tiến nói lúc đó ông tràn ngập niềm vui sướng vì được tham dự chương trình hòa nhạc về một tài năng âm nhạc thế giới mà ông vô cùng hâm mộ. Và kế đó, là ngỡ ngàng là vì sao một cậu bé như mình lại được tổng thống mời đích danh.

Sau khi định cư tại Hoa Kỳ, ông có viết cho một số báo với bút danh là Đăng Hoàng. Nhưng với âm nhạc, nhạc sĩ Cung Tiến vẫn nối dài các sinh hoạt của mình. Ngoài chức vụ Ủy viên Diễn đàn các nhà soạn nhạc Hoa Kỳ, ông vẫn sáng tác và sinh hoạt âm nhạc thính phòng để quảng bá tinh thần âm nhạc Việt Nam. Năm 1987, Cung Tiến viết nhạc tấu khúc Chinh phụ ngâm, soạn cho 21 nhạc khí tây phương, được trình diễn lần đầu vào năm 1988 tại San Jose với dàn nhạc thính phòng San Jose, và đã được giải thưởng Văn Học nghệ thuật quốc khánh 1988.

Vào đầu thập kỷ 1980 Cung Tiến phổ nhạc từ 12 bài thơ trong tù cải tạo của Thanh Tâm Tuyền mang tên "Vang Vang Trời Vào Xuân", tập nhạc này được viết cho giọng hát và Piano và được trình bày lần đầu tiên tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào năm 1985.

Năm 1992, Cung Tiến soạn tập Ta Về, thơ Tô Thùy Yên, cho giọng hát, nói, ngâm và một đội nhạc cụ thính phòng. Năm 2003, Ông đã thực hiện một tác phẩm nhạc đương đại Lơ thơ tơ liễu buông mành dựa trên một điệu dân ca chèo cổ. Ông cũng là hội viên của diễn đàn nhạc sĩ sáng tác Hoa Kỳ.

Hầu hết người yêu nhạc, biết đến một Cung Tiến, là đều tìm về kho tàng của 20 năm văn hóa vàng son của miền Nam. Trong một phát hiện mang tính sử nhạc của nhà thơ Du Tử Lê, một dấu ấn đặc biệt của riêng ông, là nhạc sĩ đầu tiên phổ nhạc từ dòng thơ tự do.

Từ giã nhạc sĩ Cung Tiến, là một lần nghiêng mình trước một con nguời tài hoa, trầm lặng; và cũng là nghiêng mình trước một thế hệ tiền nhân đã cống hiến cho văn hóa Việt có được những điều đẹp đẽ và quý báu như hôm nay.

Khanh Nguyen

T Ô I  Đ I  G I Ữ A  H O À N G  H Ô N (live) 💜Sáng tác: Ns. Văn PhụngTrình bày: Nguyễn Vũ AnhBạn nhạc: Phòng trà Khúc Ba...
30/05/2026

T Ô I Đ I G I Ữ A H O À N G H Ô N (live) 💜

Sáng tác: Ns. Văn Phụng
Trình bày: Nguyễn Vũ Anh
Bạn nhạc: Phòng trà Khúc Ban Chiều

Enjoy the videos and music you love, upload original content, and share it all with friends, family, and the world on YouTube.

Tranh sơn dầu: C Õ N GKích thước: 80x100CmTác giả Nguyễn Vũ Anh
25/05/2026

Tranh sơn dầu: C Õ N G
Kích thước: 80x100Cm
Tác giả Nguyễn Vũ Anh

Truyện ngắn: H Ã Y  B A Y  V Ề  T R Ờ ITác giả: Nguyễn Vũ Anh                                                           ...
25/05/2026

Truyện ngắn:
H Ã Y B A Y V Ề T R Ờ I

Tác giả: Nguyễn Vũ Anh

Cạnh dòng sông Cà Ty có một xóm nghèo ven sông với nhiều ngôi nhà mái tôn, nhà chồ giống nhà sàn…với nhiều hình dạng, thường mọc lên chen chúc nhau. Trong đó, có một ngôi nhà tôn nhỏ xinh, nép mình dưới bóng hai cây huỳnh đàn cao lớn, xum xuê xanh lá…Tới mùa nó nở hoa, trên cây rợp những chuổi hoa vàng rực rỡ, tỏa hương thoang thoảng trong gió. Chủ ngôi nhà ấy là một cặp vợ chồng dân lao động nghèo có hai con: thằng anh tên Cu Nhất, năm đó chừng tám chín tuổi, còn em nó, tên Bé Trâm cỡ năm tuổi. Họ đến sống ở vào đầu những năm bảy mươi, Nghe đâu, họ từ Miền Trung trôi dạt vào. Phan Thiết thời ấy là nơi đất lành, để chim đậu, nơi mà những ngành chính như: nông ngư nghiệp, lâm nghiệp… đều khá phát triển. Người dân hiền hòa, chịu khó làm ăn… Nhiều hàm hộ mang tiếng là nhà giàu, có hàng trăm thùng lều nước mắm… nhưng lúc nào cũng làm việc quần quật suốt ngày. Tỉnh Bình Thuận là một vùng đất: mưa thuận, gió hòa, rừng vàng, biển bạc nên cuộc sống nơi này thật dễ chịu. Chắc nhờ vậy mà mảnh đất này đã níu chân họ lại.
Trên nhánh huỳnh đàn sà xuống mái tôn , một con vẹt xanh đang nghiêng mình trong đám lá. Nó lúc lắc cái đầu, đong đưa cái đuôi màu lá mạ thật duyên dáng. Nghe mấy tiếng “ két, két” vọng ra từ góc sân, nó hối hả đáp lại“ két, két” và nghiêng nghiêng mắt nhìn.
Nãy giờ Cu Nhất đang ngạc nhiên vì tiếng kêu lạ tai ấy. Nó đảo mắt tìm và nhìn thấy một con két rất đẹp, đẹp gấp mấy lần con két cậu ta đang nuôi.
Cu Nhất thầm nghĩ: “Phải cố gắng bắt cho được chú két này cho Bé Trâm”. Cậu chạy vội vào nhà kéo một em gái nhỏ ra thầm thì và chỉ lên nhánh huỳnh đàn:
- Nó kìa, mày thấy đẹp không?
- Ờ, ờ em thấy rồi. Đẹp quá anh ơi , bắt cho em đi nào!
- Khẽ thôi, coi chừng nó … bay mất bây giờ!
- Anh bắt nó cho em nhé!
- Ừ, em cứ đứng dưới này kêu “két, két…” dùm anh nhen!
- Chi vậy anh?!
- Để nó mãi đáp “ két, két…” không để ý đến anh, lúc đó, anh mới bắt nó được.
- Dạ…
Cu Nhất nhanh như một con sóc, leo tót lên mái tôn trong nháy mắt. Nó thu mình ngồi chờ em nó giả tiếng “ két , két”. Giờ phút chờ đợi lúc này đối với cậu bé thật dài. Rồi sau một tiếng tằng hắng là sáu tiếng : “két , két” “ két , két” “ két , két” của Bé Trâm cất lên. Con két trên cây họa lại trong trẻo hơn. Con két Cu Nhất đang nuôi trong lồng cũng họa lại vài tiếng “ Két , két” bâng quơ. Cả “ba con két” đang cùng xướng lên làm náo nhiệt cả một góc vườn. Cu Nhất nhích lại gần con két, nhưng gió lại thổi làm đong đưa cành lá. Cu Nhất cứ sợ chim bay mất, tim cứ đập thình thịch chờ đợi thời gian chậm chạp trôi đi. Chú két rừng thơ ngây vẫn mãi mê trò chuyện: “ Két, két”…Cu Nhất sợ cử động mạnh chim sẽ bay mất nên nhích đến gần từng chút … nhưng bỗng dưng đám lá khô lại xào xạc trên mái tôn. Con két ngừng kêu, nghiêng tai nghe ngóng. Bé Trâm cũng hồi hộp quá nên quên không giả tiếng két kêu nữa. Cu Nhất thấy chim nhìn mình nên lấy hai tay che mắt lại (vì nó cho rằng nhìn mắt người chim sẽ hoảng sợ). Cuối cùng giờ phút hành động cũng đến, cậu nín thở…rồi chồm đến chụp con chim. Con két kêu thất thanh và ra sức vùng vẫy. Nó lấy cái mỏ cứng quặp vào tay Cu Nhất, nhưng cậu ta không chịu buông ra, cố chịu đau để bắt cho được con két.
Cu Nhất reo lên :
- Bắt được rồi…được mày rồi nè.
- Anh ơi mang xuống cho em đi nào!
Cu Nhất thoăn thoắt leo xuống và chìa chú két cho Bé Trâm bằng hai tay:
- Nè của em nè…
- Ôi con két đẹp quá anh Nhất hén.
Bé Trâm không dám cầm, nó chỉ vuốt vào bộ lông xanh mướt và nựng cái mỏ màu cam của con két. Con bé thích chí cười ngoặt nghẽo, nó chúi mũi vào lồng chim trò chuyện :
- Két lùn ơi! Mày có bạn rồi đó mừng hén, mày nhớ có bạn là không được giành ăn với bạn nhé!
- Két két…
- Két két…là hai hai con két…
- Két két…
- Chuối của mày nè… Ê…, Két Lùn để cho bạn ăn, không chị đánh đòn nhé!
- Két két…
- Két lùn ơi, mày đến làm quen với nó hả? …Bạn mới xinh quá hén?
Nghe Bé Trâm thủ thỉ với con chim, lòng Cu Nhất rất vui. Thấy bé Trâm chia phần cơm của mình cho con két, Cu Nhất hỏi:
- Sao em lấy cơm cho nó ăn?
- Dạ, em no rồi.
- Ừ tí nữa đói bụng, em không được khóc đòi ăn nhé!
Nó ưỡn bụng khoe với anh nó:
- Bụng bự ơi… là bự nè…
- Mày mà ham chơi là bỏ ăn luôn… là má đánh đó.
Buổi tối nằm bên cạnh em, lòng Cu Nhất rộn vui khi nghe mấy tiếng “ két, két” khe khẽ thốt lên từ cánh môi hồng chúm chím của em nó. Cậu bé nhớ lại kỷ niệm về con Két Lùn. Hôm ấy, ba nó đi làm về, vẫn túi đồ mộc như mọi ngày nhưng ông còn lấy ra thêm một bao giấy nhỏ nữa. Ông bảo: “ Đứa nào đoán được cái gì trong này, ba sẽ cho”. Cu Nhất không đoán ra nhưng Bé Trâm lại đoán được: “ Hay trong đó có… con két?!” Ông rất ngạc nhiên, cười to và âu yếm ôm Bé Trâm vào lòng. Lúc đó Két Lùn là một chú chim con mới ra ràng, đám lông con lún phún trên lưng, cánh cụt và đuôi cũng ngắn ngủn… trông thật xấu xí , buồn cười. Ngày ngày anh em Nhất thay nhau chăm sóc cho chim, chia cho nó từng phần quà hiếm hoi của mình.
Thời gian trôi qua, những búp lông chui ra khỏi ống, phủ lên mình chim một màu xanh mạ non mơn mởn, cái ức màu xanh da trời, đeo vào cổ chim chuỗi hạt huyền lấp lánh. Tuy vậy, chú két vẫn không lớn thêm bao nhiêu cả, nên cái tên“ Két Lùn” được anh em Cu Nhất đặt cho nó từ dạo ấy.
Vào một buổi sáng bình thường như những buổi sáng đã đi qua căn nhà chật hẹp của Cu Nhất, ba cậu dậy rất sớm, xách túi đi làm thuê. Hai con két cũng thức dậy từ lúc nào. Chúng cứ kêu “ két , két…”cùng với tiếng “ ò...ó…o…” của đám gà trống gáy vang, báo hiệu buổi sáng bắt đầu. Mẹ Nhất gánh bắp hầm đi bán dạo. Buổi trưa, anh em nó lục cơm mẹ nấu sẵn ra ăn, đến chiều tối cha mẹ nó mới về.
Mùa hè trở về mang theo nhiều trận mưa rào thật to, trút xuống những mái nhà lợp tôn dột nát trong xóm nghèo của Cu Nhất. Đám trẻ con bắt đầu mùa tắm mưa vui vẻ. Cu Nhất đứng cạnh em nó trên một tấm ván chông chênh, nhìn ra đường. Chúng ngắm những con vụ mưa quay tít trên mặt đường mà lòng bồn chồn náo nức. Gió tạt làm bay những hạt nước nhỏ li ti lên tóc Bé Trâm. Nhất giữ em còn nhiều hơn mẹ, nên đã có thói quen chìu chuộng em… Con bé thò tay ra ngoài hiên nhà hứng nước, miệng nài nỉ:
- Cho em đi tắm mưa đi anh Nhất, mưa chắc mát lắm phải không anh?
- Không được! Mày tắm má la tao.
- Không sao đâu, cho em tắm một chút thôi mà!
- Mày đòi nữa… tao quánh đó!
Bé Trâm đứng buồn thiu. Nó không hứng nước mưa nữa mà cứ khóc ngon, khóc lành. Nước mắt nó cứ muốn ngắn dài như mưa ngoài trời đang tuôn đổ. Trong ước muốn bảo bọc che chở, Cu Nhất lại cảm thấy khổ sở vì đã làm cô em nhỏ buồn nhưng nó vẫn đứng yên, nhất quyết không chìu ý con bé.
Đám trẻ con trong xóm nô đùa làm nước mưa bắn tung toé. Chúng trần truồng như nhộng chạy khắp xóm. Vài đứa chạy đến nhà Cu Nhất kêu réo:
- Cu Nhất ơi, mày ra tắm với tụi tao đi, mưa đả lắm…
- Tao không tắm đâu… Má tao không cho tắm mưa.
- Mày nhát quá … tắm mưa mà cũng không cho.
- ………………
- Tụi tao đi lượm khế nhà Ông Chín rụng, mày có đi không?
- Tụi mày đi đi, tao mắc giữ em.
- Cho em mày tắm luôn, vừa tắm vừa giữ có gì đâu.
- Đi anh Nhất, tắm mưa đi anh! Con Hoa nó cũng tắm kìa!
Trước những lời rủ rê của bạn bè, lời nài nỉ của Bé Trâm, Cu Nhất đã xiêu lòng. Cu Nhất nhanh chóng cởi phăng quần áo của mình và Bé Trâm rồi ùa ra đường trong làn mưa tầm tã không ngớt. Cu Nhất đã trở về với vai trò thủ lĩnh, kéo đám trẻ con theo nó chạy đi lượm khế. Trước khi đi nó không quên dặn em:
- Mày tắm trước nhà thôi, không được đi xa nhen!
Bé Trâm gật đầu. Nó nhảy tung tăng bên dưới các mái hiên nước như những con vụ mưa đang nhảy múa. Hai cái bím tóc ngút ngoắc và ướt sũng trong mưa. Cái đầu như con dế nhủi vì tóc đã bị nước mưa ép sát vào. Nó ngửa mặt lên trời đón những hạt mưa, rồi cười sặc sụa vì mưa chui cả vào mắt, vào mũi, vào tai. Cô bé chạy đến những máng xối đang tuôn nước ào ào, hòa với lũ bạn, lớn có, nhỏ có đang chen chúc tắm. Chúng nô đùa, tạt nước và ù té trong những vũng nước đục ngầu, tràn ngập giữa lòng đường. Lũ trẻ rượt đuổi nhau ra đến tận bờ sông lúc nào chẳng rõ. Mưa vẫn rơi tầm tã, nước từ thượng nguồn đổ về dòng sông Cà Ty đầy ắp và chảy xiết.
Sau những năm 75, Phan Thiết còn nghèo lắm, đường sá lầy lội, hư hỏng, bờ sông bị sạt lỡ nặng. Nhiều lỗ cống cạnh bờ sông bị hư nắp. Không hiểu sao thời ấy, thị xã thường hay bị ngập lụt, cúp điện, thiếu ăn, thiếu mặc... Khi mùa mưa về, nước từ thượng nguồn chảy xuống ào ạt rất mạnh. Nước mưa ngập đường, kéo rác rưởi chạy xuống mấy lỗ cống theo hình trôn ốc.
Đám trẻ con vui đùa, nghịch ngợm quanh những cái xoáy nước nguy hiểm ấy một cách rất vô tư. Bé Trâm nhỏ nhất trong đám nhưng hăng hái không kém ai. Nó hiếu động chạy nhảy và vui cười như nắc nẻ. Bỗng nó nhìn thấy một con búp bê cũ của ai bị cuốn trôi theo dòng nước. Con bé chạy theo lượm. Nó với theo khi búp bê sắp đến gần miệng cống, rồi mất thăng bằng ngã nhào xuống theo. Lũ trẻ phát hiện ra ngay. Con Hoa mếu máo khóc:
- Con Trâm … con Trâm lọt xuống cống rồi , nó đâu mất rồi…! Cứu … nó…

Khi chạy đến nơi, chúng chỉ kịp thấy hai cái bím tóc và đôi tay chới với xoay tròn và chìm nghỉm trong cái lỗ cống đen ngòm, toang hoác như miệng khủng long nuốt chửng lấy con bé.
Bà con trong xóm chạy ra, rồi nhảy xuống cống mò mẫm, tìm kiếm. Có người chạy đến đoạn cuối của cống ngầm, nơi đổ ra sông, đón vớt con bé nhưng chờ mãi vẫn không thấy nó đâu, thấy vậy họ đặt nhiều nghi vấn, bàn tán:
- Không biết nó bị cuốn ra sông chưa, hay còn bị mắc kẹt trong cống ngầm?!
Cu Nhất không biết được ai báo tin chạy đến, mặt mày hớt hãi, nước mắt ràn rụa:
- Các chú ơi cứu dùm em con đi, em con đâu rồi? Các chú ơi… em con đâu?
Nhìn thằng bé mình mẫy ướt sũng, môi tím tái, quay quắt tìm em trong cơn tuyệt vọng nhiều người ứa nước mắt.
Khi mưa tạnh, người ta tìm thấy xác con bé trôi ra tận cửa sông. Ai cũng không ngờ nó bị nước cuốn đi nhanh như vậy?
Xác con bé được vớt lên, đặt bên trong một cái miếu của Hội Thợ Cưa, nơi ba nó vẫn hay đến làm lụng, cưa gỗ... Vì tục lệ nơi đây nói rằng: “Chết trôi nên không cho mang xác về nhà (kỵ đòn giông) và không cho cả người thân gặp mặt...”
Nên cha mẹ con bé chỉ biết khóc vật vã ngay trước cửa miếu, còn bị vài người giữ lại can ngăn không cho vào nhìn mặt bé, Cu Nhất cũng ngồi gần đó, mặt thất thần, bất giác quay sang hỏi mấy đứa bạn:
- Em tao lạnh lắm, có ai cho nó ăn không?
Đám bạn cãi lại:
- Chắc nó không lạnh đâu, cũng không đói! Tụi tao thấy: người ta đốt đèn cày, hơ cho nó khô, cúng cho nó cơm với trứng luộc và chuối sứ.
Có lẽ do bọn trẻ nhìn thấy: mấy nắm cơm vắt, vài cái trứng luộc đặt trên đầu nằm và một nải chuối sứ nhỏ, được đặt trên bụng của con bé, nên mới nói như vậy?
Đêm ấy cả cái xóm nghèo cạnh bờ sông hình như hoang mang không thể ngủ, họ ngồi quanh ngôi miếu an ủi gia đình Cu Nhất. Họ quyên góp mua cho con bé một chiếc hòm nhỏ, xinh xắn như một chiếc rương có hai chữ vạn ở hai bên. Những chiếc ghe đuôi tôm nổ máy kêu lạch bạch trong thanh vắng, như những đoạn hài trong một bi kịch, cố tình làm vơi đi nỗi buồn một cách gượng gạo.
Cu Nhất cũng nằm thao thức, hụt hẫng vì thương đứa em quá. Hình ảnh lúc Bé Trâm, chưa đầy một tuổi hiện về trong đầu nó… Mẹ đi bán xôi suốt ngày nên nó phải giữ em. Bé Trâm khát sữa khóc hoài, cái núm vú bằng cao su, cứ bị lừa ra khỏi miệng vì nó nhận ra không có giọt sữa nào, cứ khóc ré lên. Cu Nhất nóng lòng quá, dỗ mãi vẫn không nín, nó ôm em ngồi khóc, còn bé con không hiểu vì sao lại im re, mở mắt tròn xoe nhìn anh. Thế là mỗi khi bé khóc, Cu Nhất lại áp dụng mưa kế giả vờ khóc theo để nó nín...Cũng lạ thật, vậy mà rất hiệu quả. Cu Nhất hay chơi đùa với em, trò thổi bụng bé kêu “bộp, bộp…” làm nó cười tít mắt, hở luôn hai răng sữa. Cu Nhất làm ngựa, làm bò chở em nó cưỡi, dạo quanh giường: “Nhong nhong… nhong nhong ngựa ông đã về
Cắt cỏ bồ đề cho ngựa ông ăn”…
” Ủm bò… Ủm bò…!”
Rồi mới đây, giọng Bé Trâm như còn văng vẳng bên tai: “Em đặt tên cho nó là “Két Cọt” anh nhé, vì nó cũng đẹt giống như con Két Lùn nhà mình…ha.ha…”. Nhớ đến đó, hai giọt nước mắt nặng trịch của Cu Nhất lăn xuống ướt mặt gối … Rồi như vừa nhận ra điều gì, nó quay sang hỏi mẹ: “Bé Trâm có được lên thiên đàng không mẹ?”. Mẹ Cu Nhất gật đầu, rồi ôm nó vào lòng. Cậu bé mệt quá đã thiếp đi trong tiếng khóc uất nghẹn của người mẹ quanh năm tảo tần. Vào cái thời bao cấp, ngăn sông, cấm chợ, bà mẹ nghèo suốt ngày buôn gánh, bán bưng… chạy gạo từng bữa nuôi gia đình, thì còn đâu thời gian lo cho con cái?
Sáng hôm sau, người ta mang em nó đi chôn. Không có xe tang, kèn, trống đưa tiễn như những đám ma khác, vì nhà nó quá nghèo. Cả nhà và một số người hàng xóm cùng chất lên một xe trung, chạy bằng than đá cùng với chiếc hòm nhỏ có em nó, thoáng một cái, xe đã mất hút trong bụi đường… Cu Nhất quên hết, chẳng nhớ một điều gì ngoài việc: nhìn thấy người ta bỏ em nó xuống một cái hố và lấp đất lại. Nó đã khóc thét lên: “ Đừng chôn em con, đừng chôn mà…”. Ba má cậu bé ngồi bên huyệt mộ, liệng xuồng những nắm đất, khóc không thành tiếng...
Chôn cất xong, xe thả xuống xóm nghèo, mọi người ai về nhà nấy. Trong nhà chỉ còn tiếng khóc ray rứt của mẹ. Tiếng khóc ấy kéo dài triền miên mấy tháng trời, như một làn khói màu xám, vắt qua những ngày thơ ấu vốn đã u buồn của cậu bé.
Hôm sau, cu Nhất lủi thủi chui vào góc hè nhỏ, nơi cậu vẫn thường ngồi chơi cùng với Bé Trâm. Cậu bé thẩn thờ nhìn lồng két đã bị bỏ quên hơn một ngày qua. Cậu bé giật mình, thảng thốt khi thấy con “Két Lùn” đã nằm chết rũ từ lúc nào, còn con “Két Cọt” mắt dáo dác, hai chân thoăn thoắt chạy quanh lồng. Cậu bàng hoàng thò tay vào lồng bốc xác Két Lùn ra. Cái lạnh từ thân xác bé nhỏ ấy làm cậu bé khẽ rùng mình. Những giọt nước mắt mằn mặn, bất giác tuôn rơi. Lòng lại càng buồn thêm, khi cầm trên tay xác con két yêu quý của mình, nhưng bỗng nhiên cu Nhất chợt nghĩ: “Hay Két Lùn đã lên trời với Bé Trâm cho có bạn?”.
Cậu run run, đắp nấm mộ nho nhỏ sau nhà cho két, bằng những nằm đất và những giọt nước mắt ấm nồng nhỏ xuống. Bất giác, trên chiếc mũi hếch có tàn nhang, một tiếng thở dài thườn thượt… phát ra. Dường như nỗi bất hạnh đã làm già cỗi trái tim thơ ngây của cậu bé.

Cu Nhất đem thức ăn cho Két Cọt. Con chim mừng cuống quýt và cắn mổ ngấu nghiến, nhưng phút chốc nó lại ủ rũ, rồi ngửa mặt lên trời kêu mấy tiếng “két két…két két...” thật não lòng. Không biết có điều gì trong tiếng kêu ấy mà sao thật buồn bã ? Ý nghĩ: “Hình như trong tiếng két kêu của chim, có lẫn với tiếng kêu quen thuộc của Bé Trâm hôm nào?”, khiến Cu Nhất cảm thấy đau nhói trong lòng! Một cảm giác mơ hồ nhưng thật hụt hẫng. Bất chợt, Cu Nhất nhìn con chim rồi đến chiếc lồng sắt. Cậu bé ngây người suy ngẫm rồi nhận ra thật rõ một điều: “Nếu mình nhốt Két Cọt trong này, không khéo nó lại chết mất…”. Đôi mắt cậu bé bừng lên một cách lạ thường, nó dường như vừa thức tỉnh. Không muốn nhìn thấy thêm sự chết chóc nào nữa, Cu Nhất vội vàng mở tung cửa lồng chim, quờ quạng tìm con két còn lại. Cậu bé trìu mến vuốt ve con chim một lần cuối, rồi tung nó lên không trung. Bất ngờ quá, nên con két hơi chới với, rồi kịp gượng bay lên cao. Chim đậu lại trên nhánh huỳnh đàn nghiêng đầu nhìn Cu Nhất như thầm cảm ơn người đã trả tự do cho mình, rồi nhẹ nhàng tung cánh bay vút vào khung trời mênh mông.

Dõi theo cánh chim đang náo nức tìm về với bầu trời cao rộng, tìm về nơi tổ ấm. Bóng chim tung bay mờ xa, như một nỗi đau vừa được phóng sinh, lòng Cu Nhất bỗng dưng thấy thanh thản lạ thường. Nỗi đau lắng dần trong niềm vui và hạnh phúc vừa tìm thấy.
Cậu có cảm giác như một buổi sáng vừa thức dậy, được nghe tiếng “cút cu … cút cu…” của con chim gỗ ló đầu ra từ ô cửa sổ nhỏ trên chiếc đồng đồ, nhìn thấy một khoảng trời màu xanh, bình yên, dịu mát.
Lưng trời còn vang vọng mấy tiếng “két, két…”, rồi tan dần vào không gian bao la…

( Đăng trong Tạp chí VĂN NGHỆ BÌNH THUẬN,
Số 114 tháng 7-8/2003)

Tranh sơn dầu C Õ N G
80x100 Cm
Tác giả Vũ Anh

Truyện ngắn: P H Í A  S A U  C H Â N  M Â Y  Tác giả: Nguyễn Vũ AnhQuỳnh đưa tay vuốt những sợi tóc bay lòa xòa trước tr...
19/05/2026

Truyện ngắn: P H Í A S A U C H Â N M Â Y
Tác giả: Nguyễn Vũ Anh
Quỳnh đưa tay vuốt những sợi tóc bay lòa xòa trước trán, rồi bới gọn mái tóc đang bị gió biển hất tung. Mái tóc màu hạt dẻ là một phần vẻ Tây phương của Quỳnh. Lúc nào ngồi hóng mát ở bãi biển Thương Chánh, Quỳnh cũng thấy lòng mình thật bình yên. Từ khi còn nhỏ, Quỳnh đã thích chạy chân trần trên cát mịn để nước biển lùa vào mát lạnh những ngón chân trắng hồng, cảm giác được nước vuốt ve, cát xoa dịu bàn chân lúc nào cũng làm nàng thích thú. Đôi khi trong lúc vui đùa cùng sóng nước, một ý nghĩ chợt loé lên trong đầu: “Mặc cho từng đợt sóng xô bờ, ngăn trở bước chân… mình muốn len giữa làn nước xanh biếc, đi mãi ra khơi… để xem thử có điều gì phía sau chân mây? Nàng sẽ vén lên một bức màn bí mật đầy vẻ nên thơ kỳ bí nơi ấy”. Phía sau chân mây trong tưởng tượng của Quỳnh là một không gian trong xanh, có những thiên thần bay lượn, âm thanh cũng nhẹ nhàng thanh thoát như tiếng dương cầm. Ở đó không có bất công không có tội ác, chỉ có những người với trái tim nhân hậu biết yêu thương và chia sẻ. Ở đó không có đói nghèo, thiên tai, bệnh tật chỉ có sự sung túc ấm êm. Hoa lá đua nhau nở, chim chóc thi nhau hót trong ánh sáng chan hòa của bình minh vĩnh hằng.
Quỳnh cười thật tươi, mỗi khi nghe ai đó khen mình. Dầu vậy, nàng vẫn không dấu được vẻ u buồn trong ánh mắt. Người ta còn bảo nàng đẹp nhất không phải ở khuôn mặt sáng ngời, nụ cười rạng rỡ mà ở vóc dáng. cân đối, tràn đầy sức sống, phong thái của một thiếu nữ thời phục hưng quý phái và quyến rũ. Trước 30 tháng 4, khi còn là nữ sinh trường Chính Tâm, Quỳnh học không giỏi nhưng đặc biệt lại khá văn chương. Thầy cô dạy Việt văn, ai cũng khen Quỳnh có tâm hồn, có năng khiếu, có tư chất của một nhà văn tương lai … Quỳnh yêu thơ và thuộc nhiều thơ tình Xuân Diệu, Đinh Hùng, Nguyên Sa …. và nhiều bài trong Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến. Và Quỳnh “nổi tiếng” cũng nhờ vào điều đó. Nàng ngâm nga vào mỗi buổi sáng, khi vừa thức giấc như muốn đãi cả nhà nàng một bửa điểm tâm thật tao nhã bằng thơ trong làn sương sớm còn vất vưỡng trên giàn hoa mướp vàng rực, đánh thức cả những mộng mơ của cậu con trai mới bắt đầu thời niên thiếu ở nhà bên. Thử nghĩ giữa một đám con gái còn lơ ngơ lớ ngớ chưa biết làm dáng, chưa biết chưng diện, còn nàng với dáng vóc kiêu sa và sớm trở thành thiếu nữ thì làm sao không nổi bật? Con trai trong trường nhiều đứa si mê Quỳnh như điếu đổ vì ngoài sắc đẹp trời cho, còn ẩn chứa trong tạo vật xinh xắn ấy một tâm hồn mẫn cảm đầy cá tính. Nghe kể có lần nàng đi đâu về khuya có một tên cứ kè theo nàng không biết muốn giở trò gi nhưng cứ ép sáp vào xe nàng, bấm bụng nghe những lời cợt nhã chờ gân đến nhà, nàng rút guốc lên đánh tới tấp và kêu người nhà ra tiếp cứu, tên đó sợ chạy mất dép. Chính vì nhiều giai thoại sinh ra từ cá tính mạnh mẽ của người đẹp nên biệt danh “Quỳnh Vệ Nữ” mới ra đời.
Ngày ấy, lâu lâu lại thấy nàng qua nhà chơi với chị tôi, lúc đó tôi không thể rời mắt nhìn trộm nàng, còn tai thì cứ luôn căng ra lắng nghe giọng trong trẻo và thanh tao của nàng. Há hốc như con cá vàng hả miệng đốp mồi tôi nuốt trọng lấy những câu chữ không văn hoa cầu kỳ nhưng lại mặn mà lôi cuốn của nàng trong cảm giác như đã nghe quen từ kiếp nào. Quỳnh diễn tả câu chuyện với nét mặt đầy biểu cảm, duyên dáng, nói như cười và cười như hát, thu hút mãnh liệt sự chú ý của cậu con trai mới lớn trong tôi. Lúc ấy, Quỳnh đã có một đứa con và vừa ly hôn, nhưng lại không được quyền nuôi dưỡng con. Nghe đồn rằng do tính tình nàng lả lơi, ong bướm nên bị chồng li dị, không biết đó có phải là nguyên nhân làm đổ vỡ hạnh phúc của Quỳnh không? Nhưng nhiều người cũng lấy làm lạ: Sau khi ly hôn mấy tháng, chồng Quỳnh đã hớn hở dìu một cô gái trẻ lên xe hoa, còn nàng mấy năm rồi vẫn còn đơn chiếc. Thôi thì nói làm gì chuyện thế thái nhân tình, một khi người đàn ông đã muốn thay đổi, họ có nhiều cách để hợp thức hóa câu chuyện của mình sao cho có tình có lý, sao cho chẳng ai biết để quăng vào mặt hai chữ khinh bĩ, để khỏi phải mất công chia chác, mất công giải thích dài dòng về trách nhiệm, đạo đức... Nhưng mỗi người làm theo một cách khác nhau, có người sau khi rút đầu ra khỏi cái tròng này lại chui đầu vào cái tròng khác mỹ miều hơn nhưng biết đâu nó lại siết chặt hơn, có người thì khôn ngoan không chui vào tròng nữa mà chỉ dùng tay hoặc chân chấm mút hết chỗ này đến chỗ khác cho đả cơn thèm khát. Ở đây, tên này rơi vào trường hợp đầu tiên.
Gió lại mơn man trên làn da mịn màng của Quỳnh nghe ran rát như xông hơi muối. Hoàng hôn đổ bóng. Biển bắt đầu trở nên huyền bí và xa lạ. Quỳnh rất sợ sự xa lạ ấy của biển cũng như sợ sự trở mặt của một người...vì lúc ấy không còn chân mây và không còn những ý nghĩ thánh thiện sau nó, chỉ còn lại cảm giác lạc lõng giữa khung cảnh nơi nàng đang tồn tại...Gió trở nên se sắt, làm đám lông măng trên cánh tay trắng ngần trở mình, cảm giác g*i g*i dọc cột sống xâm chiếm, bất chợt nàng muốn quay về… Quỳnh thở dài nghĩ đến căn phòng vắng vẻ … Căn phòng chật hẹp nơi đã chứng kiến tất cả những gì nàng trải qua và chia sẻ từng biểu hiện sâu kín nhất để trở nên thân thiết chong chênh, trở thành một cỏi riêng quạnh hiu thân phận. Đến những giấc mơ còn không màu huống gì cuộc sống thực tại làm sao không đơn sắc? Chồng quăng đồ ra đường, còn nhà cha mẹ đã chuyển lên rẫy, tận cây số ba mươi thay vì đi kinh tế mới nên Quỳnh phải lao đao đi tìm một nơi nương tựa. Bước vào căn phòng này, ngồi xuống chiếc giường ộp ẹp, nàng đối mặt với một người đàn bà bị chồng bỏ trên khuôn mặt có đôi mắt quầng thâm, đôi môi lạnh tái và vầng trán gợn mấy vết hằn không tên. Đôi khi rơi đúng vào hoàn cảnh đó nhưng người ta vẫn còn hồ nghi không biết có phải mình gặp tình cảnh này không nữa. Những khoảng trống thao thức, những ý nghĩ rời rạc, những thất vọng đang nuốt dần sự tự tin và niềm kiêu hãnh, nó đang lớn lên quá nhanh nên chực nứt ra và tan chảy thành sự tĩnh lặng đền kiệt sức của không gian đang lịm chết. Trong buổi giao thời này, vai trò của người phụ nữ trong xã hội đã có nhiều thay đổi. Họ không còn đứng sau người chồng làm công việc nội trợ, chăm sóc dạy dỗ con cái mà đa số họ phải đi ra buôn bán nhỏ lẻ với vai trò là người làm kinh tế trụ cột cho gia đình vì đa số những ông chồng họ đang bị thất nghiệp hay đang tập trung học tập cải tạo. Những ngày vật lộn với cuộc sống nhiều khó khăn, ngược xuôi theo những chuyến xe đò đi buôn cá khô, mực khô... Ít ai ngờ cô nữ sinh duyên dáng ngày nào bây giờ cũng biết những mánh khóe dấu hàng dưới đáy hành lý, xách tay vòng qua sau lưng trạm kiểm soát rồi ra lộ đón xe đò, thậm chí nhét hàng vào giữa lốp và ruột xe sơ-cua chở vào tận Sài Gòn bán...qua mặt cả công an, thuế vụ. Đừng nói lúc nào bạn cũng giữ mình luôn trong sạch được nhé, thật khó lòng khi sự bần cùng cứ dìm bạn xuống, lúc ấy bạn phải cố ngoi lên, cố tìm cách để sinh tồn, đôi khi còn có những hành động bất chấp nhiều thứ, vì một lẽ bạn vẫn là con người với bản năng sinh tòn sống động. Đó là điều nói ra để cảm thông, để bớt đi những hằn học, hay xóa đi ý nghĩ lên án bất cứ ai.
Những tháng ngày buôn chuyến ấy, Quỳnh phải lấy lòng với mấy anh tài xế quen để họ dành chỗ cho nàng trên xe, giúp nàng giấu hàng lậu như: mực khô, cá khô, sò cồi, cá hấp... không sợ bị phát hiện, an tâm hơn khi có mấy tên quản lý thị trường bước lên kiểm tra chuyến xe đột xuất... Đổi lại Quỳnh phải luôn ngồi cạnh họ, để yên bàn tay búp măng nõn nà cho bàn tay thô ráp chai sạn của mấy kẻ ấy nắm lấy, hoặc quờ quạng đâu đó trên người nàng khi xe qua quãng đường tối tăm, vắng vẻ.
Sự bương chải, chung chạ ấy phải chăng đã làm nàng thay đổi. Quỳnh không còn muốn ngâm thơ nữa, chấp nhận những lời chọc ghẹo, cợt nhã, chấp nhận sự đụng chạm… mà dường như không còn đỏ bừng mặt, không còn cảm thấy chân tay thừa thải như thuở còn con gái; mặc dầu vậy, có lúc nàng cũng sẵn sàng tát thẳng vào mặt tên nào có thái độ khiếm nhã xem thường mình. Giờ nàng là gái một con “trông mòn con mắt” có nhiều ưu thế trong việc mưu sinh và cũng chính là nỗi bất hạnh, gian truân của một phụ nữ biết mình đẹp và biết sử dụng sắc đẹp ấy như một vũ khí…
Lúc trước Quỳnh ở chung với một cô bạn, cùng đi buôn với nhau. Cô này yêu một tài xế xe đò, nhưng anh ta lại si mê Quỳnh hết mực, nghi ngờ Quỳnh cũng đáp lại tình cảm ấy nên cô ta đem lòng thù hận, giả vờ như vô tình làm đổ một nồi nước sôi vào Quỳnh. May sao nàng tránh kịp nên chỉ bị phỏng trên cánh tay. Quỳnh đã run rẩy như đang bị lên cơn sốt rét nhưng điều hành hạ nàng không phải là cơn sốt mà chính là sự hụt hẫng và điều sợ hãi đang ngự trị trong lòng, nàng không lý giải vì sao mà cơn ghen đã biến tình bạn thành tình địch một cách chóng vánh và tàn tệ đến như vậy. Cứ nhìn thấy vết bỏng phồng rộp, nước mắt Quỳnh lại tuôn chảy cùng với tiếng nấc nghẹn lại trong thanh quản phá tan sự tĩnh lặng của căn phòng, con thạch sùng trên vách cũng giương đôi mắt ngạc nhiên đầy thách thức với kẻ phát ra những âm thanh muốn so kè với tiếng tặc lưỡi của nó. Quỳnh buồn bã và hoảng loạn tìm đến trọ ở đây nhưng cũng không tránh được nhiều lời ra tiếng vào, đôi khi lại có người tới chửi mắng đánh ghen, nên bà chủ nhà rất bực bội. Mấy lần bà nói thẳng đòi lấy phòng không cho thuê nữa, nàng phải năn nỉ hết lời mới được ở lại. Vào cái thời ấy, phòng trọ rất khó tìm, Quỳnh biết đi đâu bây giờ? Là một phụ nữ trẻ, ngụp lặn trong niềm hoan lạc, buông thả theo những ham muốn đang căng đầy, rồi lại cảm thấy ghê tởm với chính bản thân mình. Quỳnh không biết phải nghĩ sao, nói sao về mình nữa?!có lẻ nàng bị cuốn phăng vào cơn lốc cuộc đời, đang bị mất phương hướng, mất dần những điểm tựa đang cố níu giữ. Nàng đang muốn vùng vẫy thoát ra nhưng càng cố vùng vẫy nàng lại càng lún sâu hơn như đứng trong một vũng lầy, vũng lầy của những điều sinh ra từ những biến cố của xã hội, đổ vỡ của gia đình, hệ lụy của bản thân và những bất trắc trong cuộc sống của những ngày mà chạng vạng còn nhiều hơn ban mai.
Nàng tự nhủ trong những kẻ đến với mình có mấy người yêu thương mình thật sự ? Hay toàn là những tên xôi thịt tầm thường chỉ muốn lợi dụng. Những khuôn mặt sinh ra từ thời thế, từ cơ hội và từ những khốn khó nên thật sự nó có nhiều nét nham nhở trơ trẻn hơn là vẻ trượng phu quân tử. Nàng không biết tìm đâu cho mình một người để yêu thương tin tưởng, tìm đâu một tâm hồn đồng điệu, một bờ vai để tựa đầu vào những khi mệt mỏi. Nhìn quanh không thấy ai, họ đi đâu hết rồi, lác đác một vài người cũng dễ cảm mến nhưng họ đã có gia đình ấm êm. Cảm giác khi sống trong một thế giới quá nhiều đàn bà, quá nhiều những bon chen ganh ghét, chẳng thấy có gì chung trong thế giới ấy khiến lòng nàng cảm thấy lạc lỏng đến chán chường. Nhiều đêm, Quỳnh đạp xe lang thang qua các con đường của “Thị Xã Đèn Dầu”- Phan Thiết cuối những năm bảy mươi đúng là thị xã nghèo vì không có những ánh đèn màu và thường xuyên bị cúp điện, cúp nước, quán sá chẳng có gì ngoài quán chè, quán hột vịt lộn vĩa hè mọc như nấm sau cơn mưa. Trong không gian tối đen, mỗi quán thắp một ngọn đèn dầu như một tín hiệu thu hút sự chú ý của những con thiêu thân, kiến cánh và cả những con người cần tìm đến với những điểm sáng mong cầu cho mình chút niềm vui, chút ấm áp giản dị. Quỳnh không thể đếm hết bao nhiêu ngọn đèn dầu mỗi tối và cũng như không nghe xuể bao nhiêu lời xầm xì, cái nhìn ái ngại ném sau lưng mình… Quỳnh đi như mộng du, ngang qua con đường có ngôi nhà cũ, nơi có đứa con gái bé bỏng, đáng yêu của nàng. Nhìn thấy nó đang chơi đùa trước nhà nàng cố tình đạp xe nhanh để nó không nhận ra nhưng sau đó, lại cảm thấy hối tiếc…Tại sao mình không dám gặp con? Vì chồng cấm nên mấy năm rồi mẹ con nàng vẫn chưa nhìn rõ mặt... Quỳnh xa con lúc nó còn nhỏ, trong thâm tâm luôn mong rằng nó vẫn còn nhớ đến mình, nhớ đến người mẹ lúc nào cũng dành cho nó một vị trí vô cùng quan trọng trong tim.
Không hiểu sao dạo này Quỳnh hay gặp ác mộng? Nàng bị cả một rừng người sàm sỡ, hiếp đáp, rồi ghen tuông, đánh đập … Quỳnh đã chạy trong mưa gió lạnh cóng, chỉ thấy nước tràn ngập, cảm giác ngạt thở và vô cùng sợ hãi… Có lẽ, bức xúc vì những chà đạp tàn nhẫn của người đời, nỗi cô đơn của một phụ nữ không nhà, mất con đã ám ảnh cả trong giấc ngủ của nàng. Có những đêm giấc ngủ ngập tràn nước mắt, mệt nhoài vì rượu và thuốc lá, Quỳnh không muốn sống nữa nhưng rồi nghĩ đến con, Quỳnh lại xua đi ý nghĩ dại dột ấy. Có lúc, Quỳnh lại ngượng ngùng tự nhủ: “Không biết mình sẽ làm được gì cho con sau này hay chỉ để lại trong lòng con niềm tủi hổ và oán trách vì có một người mẹ hư đốn như mình ?!”.
Sau nhiều lần đi qua nhà không nhìn thấy con, hỏi ra nàng mới biết: Chồng cũ đã chuyển nhà đi tỉnh khác làm ăn. Quỳnh về phòng trọ với tâm trạng bứt rứt, nhớ con đến cồn cào… Ôm hôn bộ đồ của con, nỗi nhớ con của một người mẹ ray rức khó chịu như tìm mà chẳng thấy được một vết thương nào đó đang bỏng rát trên thân thể.
Thấy nàng cũng có chút vốn liếng trong tay, mấy người quen rủ hùn hạp làm ăn lớn rồi lập kế tuồng hàng, ôm tiền trốn đi mất, còn Quỳnh với ít tiền để dành lại đi buôn nhưng liên tiếp bị bắt, đến nỗi nàng không dám thừa nhận số cá mực khô (thời ấy cho đó là hàng quốc cấm) là của mình vị sợ bị chúng bắt nhốt nên đã bị tịch thu hết. Rồi một ngày chỉ còn hai bàn tay trắng, không còn một chỗ dựa tinh thần nào… bao nhiêu bất hạnh xâu xé tâm hồn và thể xác đang bị bệnh, Quỳnh nhìn những vết loang lỗ rêu phong trên vách mà sợ hãi như nhìn thấy những vết thâm sẹo trong lòng đang phơi bày. Quỳnh cảm thấy thế giới như sụp đổ, hoang tàn... Và tất cả những gì nàng đang mưu cầu bỗng dưng chẳng còn ý nghĩa gì đối với nàng nữa, một sự trống rỗng không thể lấp đầy như một lỗ đen sâu hoắm trong vũ trụ tâm hồn. Trong tận cùng của nỗi tuyệt vọng, Quỳnh đã viết những dòng chữ nhạt nhòa nước mắt:
“ … “Mỹ nhân tự cổ như danh tướng
Bất hứa nhân gian kiến bạc đầu”.
Khi chết, tôi mong ai đó sẽ trồng lên mộ một cây hoa sứ trắng.
Khi mùa thu về hoa sứ sẽ rụng đầy trên mộ.
Hồn tôi được sưởi ấm nhờ những cánh hoa thanh khiết ấy…”
Một buổi sáng, thức dậy rất sớm và chuẩn bị hành lý để đi Sài Gòn, nhưng trong đầu Quỳnh đã hoạch định cho chuyến ra đi vĩnh viễn. Nàng biết rằng ai rồi cũng chết nhưng nàng phải chết khi tóc vẫn còn xanh, môi vẫn còn hồng, những vết hằn của thời gian và nỗi nhọc nhằn chưa hủy hoại được mình, đáng kể hơn là vẫn còn tâm hồn dẫu cũng có phần hư hao vẫn chưa bị mục ruỗng, khi chưa già cả đến nỗi phải cầu xin trời cho mình ngủ một đêm rồi không thức dậy nữa. Quỳnh chỉ tiếc một điều là nàng không còn cơ hội đeo đôi hoa tai cho con gái khi nó đi lấy chồng, không được đội khăn voan kết những bông hồng trắng điểm xuyến những hột bẹt lóng lánh lên mái dài đen óng của con và thủ thỉ trong tai con trẻ những điều gắng ghi nhớ trước khi về nhà chồng... nhưng thôi nàng sẽ không nghĩ ngợi gì nữa cả vì càng nghĩ nàng càng thêm mủi lòng, chắc sẽ không còn can đảm để nhìn rõ gương mặt xấu xí của thần chết. Quỳnh dự định sẽ uống thuốc trước giờ lên xe đò vào Sài Gòn, khi thuốc ngấm vào, nàng sẽ chết trên xe mà không phiền lòng chủ nhà, nhưng do dùng liều quá mạnh, đã khiến mọi việc không xảy ra theo như hoạch định. Trong lúc mang hành lý xuống cầu thang, Quỳnh đã ngã quỵ. Nàng sùi bọt mép nhưng chủ nhà cứ tưởng trúng gió nên cạo gió, xức dầu, nặn chanh vào miệng... nhiều động tác thừa diễn ra trong khi nàng ôm bụng quằn quại, nhịp đập của trái tim nàng cứ yếu dần thoi thóp như cá đang mắc cạn, không thở nỗi. Chạy chữa một hồi thấy không xong chủ nhà trọ kêu người chạy tìm cho ra chiếc xe xich lô chở nàng mất hơn mười phút, xe cà rịch cà tang trên con đường gặp hết ổ gà, rồi đến ổ trâu quá đổi gập ghềnh, nàng được ôm trong lòng mà đầu cứ lắc lư như người say rượu, ngả qua ngả lại mấy chập mới tới được bệnh viên. Đưa vào phòng cấp cứu, hai mươi phút sau bác sĩ cúi gầm bước ra báo tin: Xin chia buồn, mọi sự cứu chữa đã trở nên vô hiệu trước độc lực của những viên thuốc sốt rét noroquine vô tình.
Trong nhà xác, hai chị em tôi bàng hoàng nhìn Quỳnh nằm như đang ngủ trên một cái bục thấp xây bằng xi măng cở chiếc giường đơn, khuôn mặt vẫn hồng hào, tươi nguyên. Khác hẵn thời trang hậu chiến đang thịnh hành lúc đó là quần vải ú, áo vải phin, nàng chọn cho mình bộ đồ có lẽ đẹp nhất, chiếc áo thun len dài tay màu xanh biển và chiếc quần Jean bó. Chị tôi nắm bàn tay búp măng mềm mại sơn móng màu hồng cánh sen của nàng rồi nức nở khóc, còn tôi không hiểu sao cứ nghèn nghẹn chết điếng. Tôi như vừa bị đánh mất tình yêu đầu đời, mơ hồ và hụt hẫng trong ý nghỉ thù ghét cái chết, giận nàng quá đổi. Lòng tôi như đang khóc cho một mộng tưởng vừa tan tành, khóc cho nghìn mạch máu trẻ dại sung mãn đang trở nên hiu hắt trong nhịp đập. Có rất nhiều người vây quanh Quỳnh. Tôi không biết họ là ai? Người hiếu kỳ? Người xót thương hay kẻ lên án? Bây giờ nàng chẳng còn sợ gì nữa rồi. Quỳnh nằm đó, đẹp như một bức tượng Thần Vệ Nữ, nét mặt nàng thanh thản một cách lạ thường. Dường như nàng đã theo tiếng gọi phía sau chân mây, đi tìm cho mình sự bình yên và niềm hạnh phúc miên viễn…
Sau chiến tranh, quá nhiều những mất mát chưa bù đắp được, quá nhiều những câu chuyện huyễn hoặc tang thương giữa khung cảnh còn đổ nát tiêu điều, chúng tôi vẫn còn những bàng hoàng về những tiếng súng, về cái chết và cả những vong hồn còn đang vất vương đâu đó nên thường mua bình bông nải chuối hay mấy gói xôi, vài chén chè trải một tấm giấy ghi đầu đủ các chữ cái, thăng, giáng ...và đốt đèn cày đọc bài kinh cầu hồn: “ hồn bay bay bổng tuyệt vời, hồn là lữ khách hay hồn chinh nhân...” để cầu cơ. Việc cầu cơ đã giải mã cho chị em tôi và đám bạn bè phần nào những thắc mắc, hoang mang vào những đêm tối trời đầy linh ứng trong ngôi miếu hoang. Có một lần con cơ bằng ván hòm lấy từ ngôi mộ được hốt cốt chạy đến ô ghi chữ giáng, tôi hỏi: - Xin cho biết vong là ai? là ma, là quỷ hay là tiên thánh?
Vong mới trả lời: - Ta là ma.
-Vì sao vong chết? Chị tôi hỏi.
- Tự tử. Nghe hai từ ấy cả bọn đều dựng tóc gáy, nổi da gà nhưng vẫn đồng thanh hỏi tiếp: - Vậy vong tên gì?
Con cơ do ba người cùng đặt nhẹ ngón tay lên không ai đẩy mà chạy băng băng lần lượt đến những chữ cái để ráp lại cái tên: - Quỳnh Vệ Nữ.
Cả đám giật bắn mình hét lên rồi ù té chạy, làm đổ tung tóe cả bàn hương án, khiến tôi mất đi cơ hội hỏi nàng; bây giờ sống sướng khổ ra sao? Sau lần ấy tôi cầu mãi nhưng không thấy nàng về, có đứa bảo chắc Quỳnh đi đầu thai rồi...
..Khi vừa thắp xong cho chị Quỳnh một nén nhang, tôi lẩm nhẩm mấy câu của nhà thơ Đinh Hùng:
“…Đông xám có chàng đến hỏi :
Em thơ, chị đẹp em đâu?
Chị tôi hoa phủ đầy đầu
Đang ngủ trong lòng mộ tối.”
Có những người đến với cuôc sống này, họ gặp bạn và trao đổi với bạn những điều gì đấy, trong một khoảng thời gian ngắn ngủi nào đấy, rồi họ biến mất khỏi cuộc đời này, để lại những hỉnh ảnh những giọng nói cứ vương vất đâu đó trong tâm trí bạn :
“Mỹ nhân tự cổ như danh tướng
Bất hứa nhân gian kiến bạc đầu”.
Trời bắt đầu vào thu, nên hoa sứ rơi đầy trên mộ nàng. Cây sứ thật cao và dáng thật đẹp, thế mà nó đã nhiều tuổi rồi đấy. Bây giờ tôi hình dung, phía sau chân mây - nơi nàng ước ao được đến, Quỳnh đang dạo chơi trong tà áo dài vấn vít mây trời, đầu đội một vòng hoa sứ trắng, khuôn mặt bừng sáng trong niềm vui và sự bình an ngọt ngào, hình như chỉ thiếu một vòng ánh sáng lung linh trên đầu và chỉ cần cho nàng một đôi cánh nàng sẽ thành một thiên sứ. Trong khi phía trước chân mây nơi tôi đang sống, cuộc đời nàng đã thành chuyện kể.
Tranh sơn dầu: QUỲNH (80x120Cm)
Hs. Nguyễn Vũ Anh

Address

Nguyễn Hữu Thọ
Ho Chi Minh City

Opening Hours

Monday 09:00 - 17:00
Tuesday 09:00 - 17:00
Wednesday 09:00 - 17:00
Thursday 09:00 - 17:00
Friday 09:00 - 17:00

Telephone

+84903650021

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Nguyen Vu Anh Painting Art posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Nguyen Vu Anh Painting Art:

Share

Category