15/05/2026
𝐓𝐑𝐀𝐍𝐆 𝐏𝐇𝐔̣𝐂 𝐐𝐔𝐀𝐍 𝐋𝐀̣𝐈 𝐓𝐇𝐎̛̀𝐈 𝐋𝐄̂ 𝐓𝐑𝐔𝐍𝐆 𝐇𝐔̛𝐍𝐆 – 𝐏𝐡𝐚̂̀𝐧 𝟐
𝐓𝐫𝐢𝐞̂̀𝐮 𝐩𝐡𝐮̣𝐜 (𝐭𝐢𝐞̂́𝐩…)
𝑪𝒂́𝒄 𝒍𝒐𝒂̣𝒊 𝒎𝒖̃ 𝒌𝒉𝒂́𝒄
*𝐓𝐑𝐈𝐄̣̂𝐔 𝐏𝐇𝐔̣𝐂 𝐎̂ 𝐒𝐀
𝐿𝑒̂ 𝑡𝑟𝑖𝑒̂̀𝑢 𝑐ℎ𝑖𝑒̂́𝑢 𝑙𝑒̣̂𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑖𝑒̣̂𝑛 𝑐ℎ𝑖́𝑛ℎ chép quy chế triều phục năm 1661: “𝐻𝑜𝑎̀𝑛𝑔 𝑡𝑢̛̉, 𝑣𝑢̛𝑜̛𝑛𝑔 𝑡𝑢̛̉ đ𝑢̛𝑜̛̣𝑐 𝑝ℎ𝑜𝑛𝑔 𝑡𝑢̛𝑜̛́𝑐 𝑞𝑢𝑎̣̂𝑛 𝑐𝑜̂𝑛𝑔 đ𝑜̣̂𝑖 𝑚𝑢̃ 𝑜̂ 𝑠𝑎 𝑐𝑜́ 𝑐ℎ𝑖̉ đ𝑒𝑛 đ𝑜̣̂𝑡 𝑛𝑜̂̉𝑖, 𝑡𝑟𝑖𝑒̂̀𝑢 𝑝ℎ𝑢̣𝑐 𝑑𝑢̀𝑛𝑔 𝑚𝑎̀𝑢 đ𝑜̉, 𝑡𝑟𝑢̛̣𝑐 𝑙𝑖̃𝑛ℎ, 𝐵𝑜̂̉ 𝑡𝑢̛̉ ℎ𝑖̀𝑛ℎ 𝐻𝑜̂̉ 𝑏𝑎́𝑜, 𝑑𝑎̂𝑦 𝑡ℎ𝑎𝑜 𝑘𝑒́𝑝 𝑐𝑜́ 𝑛𝑔𝑜̣𝑐, đ𝑒𝑜 𝑘𝑖𝑒̂́𝑚. 𝐶𝑎́𝑐 𝑐ℎ𝑢̛́𝑐 𝑐𝑎𝑖 𝑞𝑢𝑎̉𝑛, 𝑐𝑎𝑖 đ𝑜̣̂𝑖 𝑐𝑜́ 𝑡𝑢̛𝑜̛́𝑐 𝑞𝑢𝑎̣̂𝑛 𝑐𝑜̂𝑛𝑔 đ𝑜̣̂𝑖 𝑚𝑢̃ 𝑂̂ 𝑆𝑎, 𝑡𝑟𝑖𝑒̂̀𝑢 𝑝ℎ𝑢̣𝑐 𝑑𝑢̀𝑛𝑔 𝑚𝑎̀𝑢 đ𝑜̉, 𝑡𝑟𝑢̛̣𝑐 𝑙𝑖̃𝑛ℎ, 𝐵𝑜̂̉ 𝑡𝑢̛̉ ℎ𝑖̀𝑛ℎ 𝑣𝑜𝑖, 𝑑𝑎̂𝑦 𝑡ℎ𝑎𝑜 𝑘𝑒́𝑝, đ𝑒𝑜 𝑘𝑖𝑒̂́𝑚…𝐶𝑜𝑛 𝑐ℎ𝑎́𝑢 𝑐𝑢̉𝑎 𝑞𝑢𝑎𝑛 𝑣𝑎̆𝑛 đ𝑢̛𝑜̛̣𝑐 𝑡𝑎̣̂𝑝 𝑎̂́𝑚, 𝑘ℎ𝑖 𝑣𝑎̀𝑜 𝑐ℎ𝑎̂̀𝑢 𝑛ℎ𝑎̣̂𝑛 𝑛ℎ𝑖𝑒̣̂𝑚 𝑣𝑢̣ đ𝑜̣̂𝑖 𝑚𝑢̃ 𝑂̂ 𝑆𝑎 đ𝑜̛𝑛 𝑔𝑖𝑎̉𝑛, 𝑎́𝑜 𝑡ℎ𝑎𝑛ℎ 𝑐𝑎́𝑡 𝑐𝑜́ 𝑙𝑜́𝑡.”
𝑸𝒖𝒚 𝒄𝒉𝒆̂́ 𝒕𝒓𝒊𝒆̂̀𝒖 𝒑𝒉𝒖̣𝒄 𝒏𝒂̆𝒎 1721 về cơ bản 𝒕𝒖̛𝒐̛𝒏𝒈 𝒕𝒖̛̣ 𝒒𝒖𝒚 𝒄𝒉𝒆̂́ 𝒏𝒂̆𝒎 1661, ngoài ra còn có quy định: “𝑐𝑎́𝑐 𝑐ℎ𝑢̛́𝑐 𝑡𝑟𝑢̛𝑜̛̉𝑛𝑔 𝑠𝑢̛̉, ℎ𝑖̀𝑛ℎ 𝑠𝑢̛̣, 𝑡ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑠𝑢̛̣, 𝑐ℎ𝑎́𝑛ℎ 𝑝ℎ𝑜́ 𝑡𝑢̛ 𝑛𝑔ℎ𝑖, 𝑝ℎ𝑢̉ ℎ𝑖𝑒̣̂𝑢 𝑢𝑦́, 𝑡ℎ𝑖̣ đ𝑜̣̂𝑐, 𝑔𝑖𝑎̉𝑛𝑔 𝑑𝑢̣, 𝑣𝑒̣̂ 𝑢́𝑦, 𝑡𝑟𝑖 𝑏𝑎̣, đ𝑜̂ 𝑠𝑢̛̣, 𝑡𝑟𝑖 𝑠𝑢̛̣, đ𝑖𝑒̂̉𝑛 𝑠𝑢̛̣, 𝑐ℎ𝑢̉ 𝑏𝑎̣, 𝑥𝑎̃ 𝑚𝑢̣𝑐, 𝑛𝑔𝑢̣𝑐 𝑡ℎ𝑢̛̀𝑎, 𝑣𝑎̀ 𝑐𝑎́𝑐 ℎ𝑎̀𝑛𝑔 𝑇𝑢̣𝑛𝑔 𝑞𝑢𝑎𝑛, 𝑡𝑎̣𝑝 𝑙𝑢̛𝑢 đ𝑜̣̂𝑖 𝑚𝑢̃ 𝑂̂ 𝑆𝑎 đ𝑜̛𝑛 𝑑𝑎̣𝑛𝑔, 𝑎́𝑜 𝑇ℎ𝑎𝑛ℎ 𝐶𝑎́𝑡 𝑐𝑜́ 𝑙𝑜́𝑡…𝐶𝑎́𝑐 𝑐ℎ𝑢̛́𝑐 𝑝ℎ𝑢̣𝑛𝑔 𝑛𝑔𝑢̛̣, 𝑔𝑖𝑎́𝑚 𝑏𝑎̣ (𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑛𝑔𝑎̣𝑐ℎ 𝑛𝑜̣̂𝑖 𝑞𝑢𝑎𝑛) đ𝑜̣̂𝑖 𝑚𝑢̃ 𝑂̂ 𝑆𝑎, 𝑎́𝑜 𝑇ℎ𝑎𝑛ℎ 𝐶𝑎́𝑡 𝑐𝑜́ 𝑙𝑜́𝑡, 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔 𝑐𝑜́ 𝑝ℎ𝑢́ ℎ𝑎̣̂𝑢.”
Tổng kết lại 𝐦𝐮̃ 𝐎̂ 𝐒𝐚 𝐭𝐡𝐨̛̀𝐢 𝐋𝐞̂ 𝐓𝐫𝐮𝐧𝐠 𝐇𝐮̛𝐧𝐠 𝐜𝐨́ 𝟑 𝐝𝐚̣𝐧𝐠
- Mũ Ô Sa chỉ đen đột nổi
- Mũ Ô Sa thường mặc với Bổ phục
- Mũ Ô Sa đơn dạng mặc với áo Thanh Cát .
Trong đó, mũ Ô Sa có chỉ đen đột nổi và mũ Ô Sa thông thường kết hợp với bổ phục, riêng mũ Ô Sa đơn dạng kết hợp với áo Thanh Cát.
*𝐓𝐑𝐈𝐄̂̀𝐔 𝐏𝐇𝐔̣𝐂, 𝐓𝐇𝐔̛𝐎̛̀𝐍𝐆 𝐏𝐇𝐔̣𝐂 𝐋𝐔̛𝐎̛𝐍𝐆 𝐂𝐀̂𝐍 Đ𝐄𝐍
Theo quy chế năm 1661 và năm 1721, hoàng tử, vương tử chưa được phong tước khi vào chầu đều đội 𝒎𝒖̃ 𝑳𝒖̛𝒐̛𝒏𝒈 𝑪𝒂̂𝒏 đ𝒆𝒏, 𝒎𝒂̣̆𝒄 𝒂́𝒐 𝒕𝒉𝒆 đ𝒆𝒏. Loại “𝐦𝐮̃ 𝐦𝐚́𝐭” này vào thời vua Lê Thánh Tông được ưa chuộng đến nỗi xảy ra tình trạng cát trộm lông đuôi ngựa công để làm mũ, khiến năm 1467 triều đình phải hạ lệnh cấm dệt tạo mũ Lương Cân.
Lịch triều hiến chương loại chí còn cho biết một trong những quy định về chất liệu tạo mũ của hoàng thân, vương thân năm 1720 là “𝑚𝑢̃ 𝑚𝑢̀𝑎 𝑥𝑢𝑎̂𝑛 - 𝑚𝑢̀𝑎 ℎ𝑒̀ 𝑑𝑢̀𝑛𝑔 đ𝑢𝑜̂𝑖 𝑛𝑔𝑢̛̣𝑎, 𝑚𝑢̀𝑎 𝑡ℎ𝑢 - 𝑚𝑢̀𝑎 đ𝑜̂𝑛𝑔 𝑑𝑢̀𝑛𝑔 đ𝑜𝑎̣𝑛 𝑚𝑎̀𝑢 ℎ𝑢𝑦𝑒̂̀𝑛." Chính vì thường được sử dụng vào mùa nóng nên loại mũ này được định danh là Lương Cân, tức mũ mát.
*𝐓𝐑𝐈𝐄̂̀𝐔 𝐏𝐇𝐔̣𝐂 𝐆𝐈𝐀̉𝐈 𝐓𝐑𝐀̃𝐈
Theo quy chế năm 1721, thượng thư, ngự sử, phó đô ngự sử, đề hình, hiến sứ, giám sát ngự sử các đạo v.v… đều đ𝐨̣̂𝐢 𝐦𝐮̃ 𝐆𝐢𝐚̉𝐢 𝐓𝐫𝐚̃𝐢, 𝐦𝐚̣̆𝐜 𝐁𝐨̂̉ 𝐩𝐡𝐮̣𝐜 𝐆𝐢𝐚̉𝐢 𝐓𝐫𝐚̃𝐢. Khâm định Việt sử thông giám cương mục cho biết: “𝑷𝒉𝒂́𝒑 𝒒𝒖𝒂𝒏 đ𝒆̂̀𝒖 𝒅𝒖̀𝒏𝒈 𝑮𝒊𝒂̉𝒊 𝑻𝒓𝒂̉𝒊 (𝒄𝒉𝒊̉ 𝒎𝒖̃ 𝒗𝒂̀ 𝑩𝒐̂̉ 𝒕𝒖̛̉)."
Giải trãi tương truyền là 𝒍𝒊𝒏𝒉 𝒕𝒉𝒖́ 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒔𝒖̛̀𝒏𝒈, 𝒃𝒂̉𝒏 𝒕𝒊́𝒏𝒉 𝒏𝒈𝒂𝒚 𝒕𝒉𝒂̆̉𝒏𝒈, thường được tạo hình tương tự kỳ lân. Ngay từ thời Hán, triều đình Trung Quốc đã mô phỏng sừng Giải Trải chế ra một loại mũ áp dụng cho các quan thực thi pháp luật nhằm nhắn gửi ý niệm về lương tri và sự công bằng. Tại Trung Quốc, mũ Giải Trãi thịnh hành vào triều Hán, Đường, Tống; triều Minh và triều Thanh lấy hình Giải trải làm Bổ tử, phế bỏ quy chế mũ Giải trãi.
Triều Tiền Lê và triều Lý phẩm quy chế mũ mão nhà Tống du nhập ba loại mũ Tiến Hiền, Điêu thiền, Giải trải. Trên thực tế, mũ Giải Trãi thời kỳ này cũng chính là mũ Tiến Hiền, trên mũ được đính thêm một chiếc sừng nên gọi Giải Trãi.
Tại Trung Quốc, mũ Giải Trải bị phế bỏ vào thời Minh, song tại Việt Nam, các triều đại Lê - Nguyễn vẫn sử dụng biểu tượng Giải Trãi đính lên mũ theo quy chế cổ. Vào thời Nguyễn, mũ Giải Trãi là mũ Phốc Đầu đính thêm một cặp sừng bằng bạc. Hội điển triều Nguyễn cho biết: “𝑀𝑖𝑛ℎ 𝑚𝑎̣𝑛𝑔 𝑛𝑎̆𝑚 𝑡ℎ𝑢̛́ 18 𝑥𝑢𝑜̂́𝑛𝑔 𝑑𝑢̣: 𝐾ℎ𝑜𝑎 đ𝑎̣𝑜 𝑙𝑎̀ 𝑐ℎ𝑢̛́𝑐 𝑔𝑖𝑢̛̃ ℎ𝑖𝑒̂́𝑛 𝑝ℎ𝑎́𝑝 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑡𝑟𝑖𝑒̂̀𝑢 đ𝑖̀𝑛ℎ, 𝑡𝑟𝑖𝑒̂̀𝑢 đ𝑖̀𝑛ℎ 𝑢̛𝑢 đ𝑎̃𝑖 𝑛𝑔𝑜̂𝑛 𝑞𝑢𝑎𝑛 đ𝑒̂̉ 𝑡𝑜̉ 𝑟𝑜̃ 𝑝ℎ𝑜𝑛𝑔 ℎ𝑜́𝑎 ℎ𝑖𝑒̂́𝑛 𝑝ℎ𝑎́𝑝… 𝑀𝑢̃ 𝑡ℎ𝑖̀ 𝑑𝑢̀𝑛𝑔 𝑚𝑢̃ 𝑂̂ 𝑆𝑎, 𝑡𝑟𝑒̂𝑛 𝑏𝑎́𝑐 𝑠𝑜̛𝑛 𝑏𝑎̆̀𝑛𝑔 𝑏𝑎̣𝑐 đ𝑖́𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑒̂𝑚 ℎ𝑎𝑖 𝑐ℎ𝑖𝑒̂́𝑐 𝑠𝑢̛̀𝑛𝑔 𝑏𝑎̆̀𝑛𝑔 𝑏𝑎̣𝑐 𝑔𝑜̣𝑖 𝑙𝑎̀ 𝑚𝑢̃ 𝐺𝑖𝑎̉𝑖 𝑇𝑟𝑎̉𝑖…đ𝑒̂̉ ℎ𝑜̛̣𝑝 𝑣𝑜̛́𝑖 𝑦́ 𝑛𝑔ℎ𝑖̃𝑎 𝑔𝑖𝑎̉𝑖 𝑡𝑟𝑎̃𝑖 ℎ𝑢́𝑐 𝑡𝑎̀.”
Dựa theo lời thơ của Nguyễn Trãi tặng vị Ngự sử họ Hoàng thời Lê sơ: “𝑀𝑢̃ 𝑡𝑟𝑎̃𝑖 𝑐𝑎𝑜 𝑐𝑎𝑜 𝑚𝑎̣̆𝑡 𝑡𝑢̛̣𝑎 𝑠𝑎̆́𝑡, 𝑐ℎ𝑎̆̉𝑛𝑔 𝑟𝑖𝑒̂𝑛𝑔 𝑦𝑒̂𝑢 𝑚𝑎𝑖 𝑐𝑜̀𝑛 𝑦𝑒̂𝑢 𝑡𝑢𝑦𝑒̂́𝑡”, cùng lời kể của Phạm Đình Hổ: “𝑐ℎ𝑎 𝑡𝑎 𝑡𝑢̛̀𝑛𝑔 𝑙𝑎̀𝑚 ℎ𝑖𝑒̂́𝑛 𝑠𝑎́𝑡 𝑁𝑎𝑚 Đ𝑖̣𝑛ℎ 𝑣𝑎̀ 𝑡𝑢𝑎̂̀𝑛 𝑝ℎ𝑢̉ 𝑆𝑜̛𝑛 𝑇𝑎̂𝑦, 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑡𝑟𝑎́𝑝 𝑐𝑎̂́𝑡 𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑐ℎ𝑖𝑒̂́𝑐 𝑚𝑢̃ 𝑃ℎ𝑜̂́𝑐 Đ𝑎̂̀𝑢 𝑣𝑎̀ 𝑚𝑜̣̂𝑡 𝑐ℎ𝑖𝑒̂́𝑐 𝑚𝑢̃ 𝐺𝑖𝑎̉𝑖 𝑇𝑟𝑎̃𝑖, ℎ𝑜̂̀𝑖 𝑛ℎ𝑜̉ 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑘ℎ𝑖 đ𝑢̀𝑎 𝑛𝑔ℎ𝑖̣𝑐ℎ, 𝑡𝑎 𝑡ℎ𝑢̛𝑜̛̀𝑛𝑔 𝑙𝑎̂́𝑦 𝑟𝑎 đ𝑜̣̂𝑖, 𝑡ℎ𝑖́𝑐ℎ 𝑛ℎ𝑎̂́𝑡 𝑙𝑎̀ 𝑚𝑢̃ 𝐺𝑖𝑎̉𝑖 𝑇𝑟𝑎̃𝑖, 𝑐𝑜́ 𝑐𝑎̂́𝑚 𝑐𝑢̃𝑛𝑔 𝑘ℎ𝑜̂𝑛𝑔 đ𝑢̛𝑜̛̣𝑐”.
Có thể thấy ngoài chiếc sừng mang tính chất biểu tượng, kiểu dáng của mũ Giài trãi và mũ Phốc thời Lê chưa hẳn đã hoàn toàn tương tự vào thời Nguyễn. Ngoài ra, khác với triều phục Giải Trãi của triều Nguyễn (mũ Giải Trãi kết hợp với mãng bào), vào thời Lê Trung Hưng mũ Giải Trãi kết hợp với bộ phục thêu hình Giải Trãi, tương tự quy chế của nhà Minh. Chính vua Lê Thánh Tông đã từng đề cập dạng Bổ tử này trong Thập giới cô hồn quốc ngữ văn: “𝐶𝑜́ 𝑘𝑒̉ đ𝑜̣̂𝑖 Đ𝑖𝑒̂𝑢 𝑇ℎ𝑖𝑒̂̀𝑛 𝑛ℎ𝑎̆̃𝑛 𝑚𝑎̣̆𝑡, 𝑐𝑜́ 𝑛𝑔𝑢̛𝑜̛̀𝑖 𝑣𝑎̣̂𝑛 𝐺𝑖𝑎̉𝑖 𝑇𝑟𝑎̃𝑖 𝑛𝑔𝑎𝑛𝑔 𝑛𝑔𝑎𝑛𝑔.” Cách nói “𝑣𝑎̣̂𝑛 𝐺𝑖𝑎̉𝑖 𝑇𝑟𝑎̃𝑖 𝑛𝑔𝑎𝑛𝑔 𝑛𝑔𝑎𝑛𝑔” tức là mặc Bào phục với miếng Bổ tử hình Giải Trãi đính ngang trước ngực.
*Nguồn tham khảo: sách Ngàn năm áo mũ (Trần Quang Đức), Blog Quốc sử quán.