Zanga Arts Space

Zanga Arts Space Fine art - flow

Theo đề án của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về việc tham gia Venice Biennale 61 là cần thiết khi so sánh với các quốc...
17/03/2026

Theo đề án của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về việc tham gia Venice Biennale 61 là cần thiết khi so sánh với các quốc gia Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan.
ZAS xin trích dịch phần Quy trình tuyển chọn nghệ sĩ của Nhật cho gian trưng bày quốc gia (pavilion) của Nhật Bản tại Venice Biennale 61 đã được đơn vị uỷ nhiệm của Chính phủ Nhật thông tin rộng rãi cùng kết quả tuyển chọn từ tháng 4/2025 - hơn một năm trước khi sự kiện chính thức diễn ra để nghệ sĩ, giám tuyển có đủ thời gian phát triển dự án và làm việc.
—-

[Về quy trình tuyển chọn]

Hội đồng Triển lãm Quốc tế, gồm sáu thành viên do Quỹ Nhật Bản bổ nhiệm (danh sách ở mục 1), ban đầu đã rút gọn danh sách nhiều nghệ sĩ được 26 nhà đề cử trong và ngoài Nhật Bản giới thiệu xuống còn bảy ứng viên/nhóm (danh sách ở mục 2). Mỗi ứng viên được yêu cầu xác nhận khả năng tham gia và nộp một đề án triển lãm cơ bản. Sau khi đánh giá các đề án trong cuộc họp tuyển chọn lần thứ hai, Ei Arakawa-Nash cuối cùng đã được lựa chọn.

Bài bình luận về quy trình tuyển chọn sẽ được công bố sau trên website của Quỹ Nhật Bản:
https://www.jpf.go.jp/e/project/culture/exhibit/international/venezia-biennale/art/

1. Thành viên Hội đồng Triển lãm Quốc tế (theo thứ tự bảng chữ cái)
• Mami Kataoka, Giám đốc, Bảo tàng Nghệ thuật Mori
• Mika Kuraya, Giám đốc, Bảo tàng Nghệ thuật Yokohama
• Yusuke Minami, Nguyên Giám đốc, Bảo tàng Nghệ thuật Tỉnh Aichi
• Shinobu Nomura, Giám tuyển cao cấp, Tokyo Opera City Art Gallery
• Akira Tatehata, Giám đốc, Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại Saitama
• Meruro Washida, Giám đốc, Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Thế kỷ 21, Kanazawa

2. Các ứng viên cuối cùng (theo thứ tự bảng chữ cái)
• Ei Arakawa-Nash
• Kei Imazu và Bagus Pandega
• mé
• Meiro Koizumi
• Lieko Shiga (rút lui)
• Shimabuku
• Chikako Yamashiro



[Về Biennale Venice (La Biennale di Venezia)]

Biennale Venice là một lễ hội nghệ thuật được tổ chức tại nhiều địa điểm trên khắp thành phố đảo Venice, Ý. Kể từ khi triển lãm nghệ thuật đầu tiên được tổ chức vào năm 1895, sự kiện này đã có gần 130 năm lịch sử. Trong những năm gần đây, nhiều lễ hội nghệ thuật quốc tế tập trung vào mỹ thuật đã diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới, tuy nhiên Biennale Venice vẫn là sự kiện danh giá nhất và là hình mẫu cho các sự kiện này.

Thuật ngữ “Biennale” trong tiếng Ý có nghĩa là “hai năm một lần”, và nhiều lễ hội nghệ thuật tương tự cũng sử dụng tên gọi “Biennale” hoặc “Triennale” (ba năm một lần), theo mô hình của Biennale Venice. Hiện nay, sự kiện bao gồm nhiều lĩnh vực độc lập như triển lãm nghệ thuật, triển lãm kiến trúc, liên hoan âm nhạc, liên hoan phim và liên hoan sân khấu. Trong đó, triển lãm nghệ thuật đặc biệt thu hút sự quan tâm của giới nghệ thuật toàn cầu như một không gian khảo sát các xu hướng nghệ thuật đương đại và là một trong số ít các triển lãm quốc tế áp dụng mô hình tham gia theo quốc gia.

Nhật Bản lần đầu tiên tham gia chính thức vào năm 1952, và sau khi Gian trưng bày (pavilion) Nhật Bản được hoàn thành vào năm 1956, quốc gia này đã liên tục tham gia cho đến nay. Quỹ Nhật Bản chịu trách nhiệm tổ chức triển lãm tại Gian trưng bày Nhật Bản từ năm 1976. Thông tin về các nghệ sĩ từng đại diện cho Nhật Bản có thể được tham khảo tại trang lưu trữ:
https://venezia-biennale-japan.jpf.go.jp/e/art
(Yayoi Kusama đã tham gia trưng bày vào năm 1993.)



[Về đơn vị ủy nhiệm (Commissioner)]

Quỹ Nhật Bản (JF), đơn vị tổ chức và ủy nhiệm Gian trưng bày Nhật Bản tại Triển lãm Nghệ thuật Quốc tế lần thứ 61 – La Biennale di Venezia, là tổ chức duy nhất của Nhật Bản chuyên thực hiện các chương trình giao lưu văn hóa quốc tế một cách toàn diện trên phạm vi toàn cầu.

Quỹ Nhật Bản được thành lập năm 1972 với tư cách là một pháp nhân đặc biệt trực thuộc Bộ Ngoại giao, và được tái cơ cấu thành một cơ quan hành chính độc lập vào ngày 1 tháng 10 năm 2003. Với 26 văn phòng tại 25 quốc gia, sứ mệnh của Quỹ là “thúc đẩy tình hữu nghị và mối quan hệ gắn kết giữa Nhật Bản và thế giới”. Thông qua nhiều dự án và dịch vụ thông tin, Quỹ tạo ra các cơ hội giao lưu giữa con người với con người nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa người dân Nhật Bản và các quốc gia khác.
—-

Lựa chọn nghệ sĩ cho Triển lãm Nghệ thuật Quốc tế lần thứ 61 – La Biennale di Venezia

Để lựa chọn nghệ sĩ cho Gian trưng bày Nhật Bản, Hội đồng Tư vấn về Triển lãm Nghệ thuật Quốc tế của Quỹ Nhật Bản, gồm sáu thành viên do Quỹ bổ nhiệm, đã tổ chức hai vòng xét tuyển và đưa ra quyết định từ danh sách ứng viên do 26 nhà đề cử trong và ngoài nước giới thiệu. Tương tự các kỳ Biennale trước, tiêu chí lựa chọn cơ bản là chọn một nghệ sĩ cá nhân hoặc một tập thể nghệ sĩ hoạt động ổn định, đồng thời nghệ sĩ (hoặc tập thể) phải đại diện phù hợp cho các xu hướng của nghệ thuật đương đại tại Nhật Bản. Ngoài ra, kinh nghiệm quốc tế cũng được xem là một lợi thế, và nghệ sĩ (hoặc tập thể) phải có quốc tịch Nhật Bản hoặc lấy Nhật Bản làm địa bàn hoạt động nghệ thuật chính, trong hiện tại hoặc trước đây.

Hai vòng xét tuyển được tiến hành sau một cuộc họp sơ bộ nhằm thống nhất các chính sách và phương thức liên quan. Trong vòng xét tuyển thứ nhất, mỗi thành viên hội đồng – sau khi đã nghiên cứu trước hồ sơ của từng ứng viên cùng với nhận xét từ các nhà đề cử – trình bày đánh giá tổng quan của mình. Sau đó, hội đồng thảo luận về từng nghệ sĩ và tiến hành bỏ phiếu để rút gọn danh sách xuống còn bảy ứng viên cho vòng tiếp theo. Quỹ Nhật Bản sau đó liên hệ với từng ứng viên để xác nhận khả năng tham gia nếu được chọn, đồng thời yêu cầu họ nộp một đề án triển lãm cơ bản. Tuy nhiên, khác với kỳ Biennale trước, đề án lần này không chỉ bao gồm bản thuyết minh ý tưởng mà còn phải có tư liệu hình ảnh minh họa cho triển lãm.

Một ứng viên đã từ chối tham gia do đang chuẩn bị cho các triển lãm khác, và một ứng viên khác cho biết họ không phải là nghệ sĩ cá nhân mà là một nhóm hai người trong đề án của mình. Vì vậy, vòng xét tuyển thứ hai đã xem xét sáu đề án được nộp. Sau khi đánh giá riêng từng đề án, hội đồng tiến hành thảo luận tổng thể, bao gồm việc so sánh giữa các đề án. Các thành viên trao đổi ý kiến, tập trung chủ yếu vào các đề án liên quan đến trình diễn và hình ảnh, cũng như tính khả thi của chúng trong không gian Gian trưng bày Nhật Bản, trước khi tiến hành bỏ phiếu và cuối cùng quyết định lựa chọn Ei Arakawa-Nash.

Ei Arakawa-Nash sinh năm 1977 tại Iwaki, Fukushima (Nhật Bản), chuyển đến Hoa Kỳ năm 1998, ban đầu sống tại New York và sau đó tại Los Angeles. Hiện ông là công dân nhập tịch Hoa Kỳ. Ông được biết đến với các sắp đặt mang tính trình diễn, và trong những năm gần đây đã tổ chức các triển lãm cá nhân tại Tate Modern (London, 2021), Trung tâm Nghệ thuật Quốc gia (Tokyo, 2024) và nhiều địa điểm khác. Tại Biennale, ngày càng có nhiều quốc gia lựa chọn các nghệ sĩ có nền tảng đa văn hóa cũng như các nghệ sĩ thuộc nhóm thiểu số. Thông qua việc giới thiệu một nghệ sĩ trình diễn người Mỹ gốc Nhật thuộc cộng đồng q***r, hội đồng kỳ vọng góp phần thúc đẩy sự đa dạng của Nhật Bản tại Venice.

Tên tạm thời của dự án của Arakawa-Nash là Babies Earnestly Ag*inst Nationalism (BEAN - tạm dịch: Các em bé kiên quyết chống chủ nghĩa quốc gia). Theo đó, sắp đặt quy mô lớn này sẽ bao gồm các “màn trình diễn” của cặp song sinh nhỏ tuổi của nghệ sĩ, cùng nhiều búp bê em bé, đồng thời có sự tham gia của khán giả. Với năng lực sáng tạo độc đáo của nghệ sĩ, dự án được kỳ vọng sẽ mang đến một góc nhìn phê bình sắc sảo và hài hước, dựa trên nhận thức về các vấn đề mà cộng đồng LGBTQ+ và người Nhật hải ngoại đang đối mặt.
(Thông tin từ Quỹ Nhật Bản).

ZAS xin chia sẻ bản dịch QUY TRÌNH đối với các việc đăng ký tham gia của các Quốc gia (Procedure for National Participat...
15/03/2026

ZAS xin chia sẻ bản dịch QUY TRÌNH đối với các việc đăng ký tham gia của các Quốc gia (Procedure for National Participations) tại Venice Biennale 61 với các quốc gia trong trường hợp của CHXHCN Việt Nam.

“ĐIỀU 4 – Yêu cầu tham gia chính thức từ các quốc gia không có Nhà trưng bày (Pavilion) thường trực tại Vườn Giardini (Giardini) hoặc Nhà trưng bày dài hạn tại Khu Arsenale (Arsenale)

Yêu cầu tham gia chính thức phải được gửi đến Chủ tịch Triển lãm Biennale Venice (La Biennale di Venezia) và phải được ký bởi Cơ quan Chính phủ có thẩm quyền (Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao hoặc Bộ trưởng phụ trách các vấn đề văn hóa) hoặc Cơ quan công lập của Chính phủ có liên hệ trực tiếp với cơ quan này, thông qua đó quốc gia thường thực hiện các hoạt động cùng loại.

Mọi yêu cầu được gửi bởi Đại sứ hoặc bất kỳ đại diện nào của quốc gia tại Ý hoặc ở nước ngoài sẽ không được xem xét.

Yêu cầu tham gia chính thức phải được gửi trong thời hạn và không muộn hơn ngày 19 tháng 1 năm 2026.

Cơ quan Chính phủ sẽ chỉ định một Người được ủy quyền (Commissioner). Người này phải thuộc Cơ quan Chính phủ hoặc Cơ quan công lập được ủy quyền đại diện cho quốc gia.

Với tư cách là đại diện và sự thể hiện trực tiếp của Cơ quan Chính phủ của quốc gia, Người được ủy quyền không được phép đảm nhiệm vai trò này cho nhiều hơn một quốc gia.

Người được ủy quyền sẽ giám sát dự án triển lãm của phần tham gia quốc gia và chịu trách nhiệm về triển lãm tại Nhà trưng bày của quốc gia, trên cơ sở thỏa thuận với Triển lãm Biennale Venice (La Biennale di Venezia) và tuân thủ các tiêu chuẩn văn hóa và tổ chức của Triển lãm.

Vì mục đích này, Người được ủy quyền phải gửi một bản sao của quy trình này đã ký xác nhận chấp thuận đến Ban Nghệ thuật Thị giác và Kiến trúc (Visual Arts and Architecture Department).

Không chấp nhận Phó
ủy nhiệm viên (Deputy Commissioner) hoặc Đồng uỷ nhiệm viên (Co-Commissioner).

Cơ quan Chính phủ sẽ chỉ định một Giám tuyển (Curator) và thông báo cho Triển lãm Biennale Venice (La Biennale di Venezia) về quy trình bổ nhiệm.

Giám tuyển không được phép đảm nhiệm vai trò tương tự cho các quốc gia khác hoặc cho các Sự kiện bên lề (Collateral Events).

Việc bổ nhiệm phải được thông báo cho Biennale kịp thời và trong mọi trường hợp phải trước khi được công bố chính thức với công chúng.

Giám tuyển sẽ chịu trách nhiệm về dự án nghệ thuật cũng như việc lựa chọn các nghệ sĩ tham gia, và việc tham gia của các nghệ sĩ không được kèm theo bất kỳ khoản phí nào.



ĐIỀU 5 – Nộp dự án triển lãm

Quốc gia tham gia phải gửi một văn bản giải thích Ý tưởng giám tuyển (Curatorial concept) của phần tham gia quốc gia, cùng với dự án triển lãm chi tiết (danh sách nghệ sĩ tham gia, danh sách tác phẩm, sơ đồ bố trí trưng bày) cho Ban Nghệ thuật Thị giác và Kiến trúc (Visual Arts and Architecture Department) của Triển lãm Biennale Venice (La Biennale di Venezia) trước ngày 10 tháng 1 năm 2026 để cung cấp thông tin và kiểm tra.

Đồng thời, đối với các triển lãm được lắp đặt trong các tòa nhà được xếp hạng di sản, dự án triển lãm nội thất bắt buộc phải được quốc gia trực tiếp nộp cho Cơ quan Giám sát Khảo cổ học, Mỹ thuật và Cảnh quan của Thành phố Venice và vùng đầm phá (Soprintendenza Archeologia, Belle Arti e Paesaggio per il Comune di Venezia e Laguna) để xin cấp phép.

Các quốc gia có Nhà trưng bày tại khu Vườn Giardini di Castello phải thiết lập dự án nghệ thuật trong không gian bên trong Nhà trưng bày của mình.

Các không gian ngoài trời chung tại Vườn Giardini không dành cho các quốc gia tham gia sử dụng, trừ khi nằm ngay khu vực liền kề Nhà trưng bày của họ và được Triển lãm Biennale Venice cho phép cụ thể.

Để xin phép, Người được ủy quyền (Commissioner) phải nộp một dự án chi tiết cho Ban Nghệ thuật Thị giác và Kiến trúc của Biennale trước ngày 10 tháng 1 năm 2026, nhằm đánh giá tính khả thi của dự án và trình lên các cơ quan địa phương có thẩm quyền để xin các giấy phép cần thiết.

Điều kiện cho phép này cũng áp dụng đối với các sắp đặt âm thanh hoặc ánh sáng, cả trong nhà và ngoài trời, nếu chúng có thể ảnh hưởng đến bối cảnh đô thị xung quanh.

Trong trường hợp dự án bao gồm các tác phẩm đặt tại không gian công cộng ngoài trời ở Venice, bao gồm không gian mặt nước hoặc các sắp đặt âm thanh hoặc ánh sáng có thể ảnh hưởng đến bối cảnh đô thị xung quanh, quốc gia tham gia có nghĩa vụ và trách nhiệm nộp cho Ban Nghệ thuật Thị giác và Kiến trúc của Biennale trước ngày 10 tháng 1 năm 2026:
• các tài liệu kỹ thuật chi tiết cần thiết theo yêu cầu của các cơ quan địa phương (Chính quyền Thành phố Venice, Cơ quan Giám sát Khảo cổ học, Mỹ thuật và Cảnh quan của Thành phố Venice và vùng đầm phá – Soprintendenza Archeologia, Belle Arti e Paesaggio per il Comune di Venezia e Laguna, và các cơ quan chức năng liên quan khác),
• nhằm đánh giá tính khả thi của dự án và cấp các giấy phép cần thiết.

Sau đó, Triển lãm Biennale Venice (La Biennale di Venezia) sẽ chịu trách nhiệm gửi các tài liệu này đến các cơ quan địa phương có thẩm quyền, nhằm hoàn tất quy trình phê duyệt trong thời hạn quy định.

Các giấy phép này chỉ có hiệu lực đến khi kết thúc triển lãm. Vì vậy, mọi công trình lắp đặt trong không gian công cộng phải được tháo dỡ và di dời ngay sau ngày bế mạc.

Nếu đề xuất nghệ thuật của quốc gia bao gồm hai dự án tại hai địa điểm khác nhau ở Venice (trong đó một địa điểm phải là Nhà trưng bày (pavilion) chính thức của quốc gia), đề xuất chỉ được chấp nhận nếu:
• dự án ngoài Nhà trưng bày chỉ chiếm phần nhỏ trong tổng thể dự án, và
• dự án đó được đặt tại một tổ chức văn hóa công lập.

Quốc gia tham gia phải tự thực hiện tất cả các thủ tục cần thiết để xin các giấy phép bổ sung từ các cơ quan địa phương có thẩm quyền.

Nói chung, quốc gia tham gia sẽ chịu toàn bộ chi phí lắp đặt triển lãm của mình, bao gồm:
• chi phí vận chuyển
• thủ tục hải quan
• lưu kho thùng và vật liệu
• giám sát và bảo vệ
• an ninh địa điểm triển lãm
• vệ sinh
• bảo hiểm
• thu gom và xử lý rác thải
• và mọi chi phí bổ sung cần thiết để thực hiện triển lãm đúng quy chuẩn.

Quốc gia tham gia phải bảo đảm rằng tất cả các văn bản thông tin trong thiết kế đồ họa triển lãm phải có ít nhất hai ngôn ngữ: tiếng Ý và tiếng Anh.

Không được phép đặt bảng thông tin ngoài trời, tiêu đề triển lãm hoặc bất kỳ phương tiện thông tin nào khác đối với các Nhà trưng bày nằm trong khu vực Arsenale và Giardini.

Việc tham gia của gian quốc gia phải có thời gian trưng bày giống với Triển lãm Quốc tế, tức đến ngày 22 tháng 11 năm 2026.
Các trường hợp ngoại lệ phải được thảo luận trước với Biennale.

Trong trường hợp xảy ra sự cố kỹ thuật trong thời gian mở cửa khiến Nhà trưng bày phải tạm thời đóng cửa, quốc gia phải thông báo ngay cho Biennale và nhanh chóng khắc phục, nhằm không làm gián đoạn việc tiếp cận của công chúng lâu hơn thời gian cần thiết để giải quyết sự cố.”
(Người dịch: Phạm Thị Điệp Giang)

Theo website chính thức của Venice Biennale 61, gian trưng bày quốc gia của CHXHCN Việt Nam có Người được uỷ nhiệm (của Chính phủ) là Ma The Anh; Giám tuyển là Do Tuong Linh.


Hình chụp từ tài liệu hướng dẫn của BTC Biennale Venice 61.

Nhân CHXHCN Việt Nam lần đầu có gian triển lãm tại Venice Biennale lần 61 (2026), ZAS xin phép cập nhật các chia sẻ của ...
13/03/2026

Nhân CHXHCN Việt Nam lần đầu có gian triển lãm tại Venice Biennale lần 61 (2026), ZAS xin phép cập nhật các chia sẻ của Giám tuyển Phạm Thị Điệp Giang về sự kiện này!
—-
Trường hợp kỳ lạ của một nghệ sĩ “đen đủi” tại Venice Biennale

Tôi muốn viết về một nghệ sĩ “đen đủi” – người cuối cùng có vẻ sẽ thực sự xuất hiện tại Venice Biennale lần thứ 61 năm nay. Nếu sự xuất hiện lần này biến thành hiện thực khi sự kiện sẽ được khai mạc tại Venice vào ngày 9/5/2026 tới, cho dù không ở một trong hai khu trưng bày danh tiếng lâu năm là Giardini và Arsenale Biennale; thì tại Gian triển lãm của CHXHCN Việt Nam cách cây cầu Rialto nổi tiếng chỉ vài phút đi bộ, có lẽ cũng đủ minh chứng cho câu nói nổi tiếng của Paulo Coelho trong “Nhà giả kim” rất được giới trẻ Việt Nam ưa chuộng: “Khi bạn thực sự mong muốn một điều gì, cả vũ trụ sẽ hợp sức giúp bạn đạt được".

Đó là Lê Hữu Hiếu, hay “Henry Le” như cách anh tự gọi mình trong nhiều cuộc phỏng vấn.

Tôi lần đầu viết về anh trên Facebook vào năm 2024 khi tôi đến thăm Venice Biennale lần thứ 60 để xem liệu tác phẩm của anh có thực sự được trưng bày ở đó hay không. Từ cuối năm 2023, anh đã xuất hiện rộng rãi trên các phương tiện truyền thông chính thống tại Việt Nam như VTV, Nhân Dân, Tiền Phong, Thể thao & Văn hóa… với những tiêu đề như *“họa sĩ Việt Nam đầu tiên được ban tổ chức Venice Biennale mời tham dự.”*¹²³

Tôi đã rất ngạc nhiên. Không phải vì tôi biết rằng trước đó đã có nhiều nghệ sĩ Việt Nam tham gia Venice Biennale, mà vì việc anh được “ban tổ chức mời” nghe có vẻ rất lạ nếu xét theo cơ chế hoạt động của Biennale.

Theo quy định của Biennale, Fondazione La Biennale di Venezia (sáng lập năm 1895 - đơn vị tổ chức sự kiện nghệ thuật này) sẽ bổ nhiệm một giám tuyển thông qua sự đồng thuận của Ban giám đốc cho mỗi kỳ. Giám tuyển này sau đó sẽ lựa chọn nghệ sĩ và xây dựng dự án giám tuyển trước khi danh sách cuối cùng được công bố chính thức.⁴

Vì vậy, nếu Hiếu thực sự được ban tổ chức mời, thì hẳn anh phải là một trường hợp rất đặc biệt.

Do đó, chúng ta cần xem xét kỹ hơn những thông tin mà anh đưa ra cũng như cách truyền thông đã đưa tin về câu chuyện này.

1. “Lời mời” từ “Chủ tịch Venice Biennale”

Theo lời Hiếu, “Ông Paolo De Grandis - Chủ tịch của tổ chức PDG Arte Communications, đại diện đơn vị tổ chức Biennale Venezia lần thứ 60 - đã có thư gửi tới Bộ trưởng Bộ VH,TT&DL Việt Nam về việc mời họa sĩ Lê Hữu Hiếu tham dự sự kiện này.² Mối “nhân duyên” để Hiếu được gặp ông “Chủ tịch Venice Biennale” này là vì “Trong cái rủi, có cái may, khi tôi chuẩn bị tổ chức triển lãm “Năng lượng tâm hồn” cũng là lúc COVID-19 bùng phát ở châu Âu. Nhưng đây gần như là triển lãm lớn duy nhất trên thế giới vào thời điểm đó, nên thu hút được rất nhiều những nhà chuyên môn lớn trên thế giới, trong đó có cả ngài Chủ tịch Venice Biennale. Quả thật tôi đã lọt vào “mắt xanh” của ông ấy và tôi đã nhận được lời mời dự triển lãm Biennale Venezia” (Tiền phong, 11/2/2024, trả lời phỏng vấn của Viết Hà).³

Nhưng PDG Arte Communications có phải là đại diện/hay ban tổ chức Venice Biennale không?

Tất nhiên là không.

Đơn vị duy nhất tổ chức Venice Biennale là Fondazione La Biennale di Venezia, được thành lập từ năm 1895.⁵

Theo website của mình, PDG Arte Communications là một công ty tư nhân quản lý nhiều không gian triển lãm tại Venice và cung cấp dịch vụ tổ chức sự kiện nghệ thuật. ⁶

Nói cách khác, đây đơn giản là một công ty dịch vụ cho thuê không gian và tổ chức triển lãm. Và họ đã ký hợp đồng cung cấp dịch vụ thực hiện triển lãm cho nhiều gian triển lãm quốc gia đăng ký tham gia Venice Biennale. Hiểu đơn giản hơn, đây là một “cách chào hàng” về thực hiện dịch vụ làm gian triển lãm tới phía Chính phủ Việt Nam.

Ông Paolo De Grandis, một nhân vật nổi tiếng trong làng nghệ thuật Ý, đáng buồn thay, đã mất tại Venice vào năm 2024.

2. Arte Laguna Prize và địa điểm Arsenale Nord

Một chi tiết quan trọng khác liên quan đến địa điểm thực sự nơi Lê Hữu Hiếu trưng bày tác phẩm tại Venice năm 2024 mà theo anh là tham gia Venice Biennale.

Theo các thông tin hiện có, triển lãm diễn ra tại Arsenale Nord, một địa điểm do tổ chức Arte Laguna Prize quản lý. Những nghệ sĩ từng tham gia cuộc thi Arte Laguna Prize hoặc các chương trình liên quan có thể trưng bày tác phẩm của mình tại các triển lãm do mạng lưới này tổ chức. Trong nhiều trường hợp, nghệ sĩ hoặc đơn vị triển lãm có thể thuê không gian để trưng bày tác phẩm tại đây. ⁷

Điều quan trọng cần lưu ý là Arsenale Nord không thuộc các địa điểm triển lãm chính thức của La Biennale di Venezia, và các triển lãm diễn ra tại đây không nằm trong chương trình chính thức của Biennale Arte; cũng có nghĩa là, tác phẩm của nghệ sĩ không nằm trong việc giám tuyển của giám tuyển chính thức của Venice Biennale.

Trong thời gian diễn ra Venice Biennale, có hàng trăm triển lãm độc lập diễn ra khắp thành phố Venice. Điều này rất dễ khiến công chúng hoặc truyền thông nhầm lẫn rằng chúng là một phần của Biennale.

3. “Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại Ý” bí ẩn

Trong nhiều cuộc phỏng vấn, Hiếu cũng cho biết rằng việc anh được mời tham dự Venice Biennale lần thứ 60 bắt nguồn từ sự quan tâm của một số nhân vật trong giới nghệ thuật Ý sau khi họ xem triển lãm của anh tại Arte Laguna Prize năm 2021.

Theo bài viết “Artist puts Việt Nam on the world stage with Venice exhibit” (tạm dịch: Nghệ sĩ đưa Việt Nam lên sân khấu thế giới với triển lãm tại Venice.) đăng trên Vietnam News ngày 7/2/2024, Hiếu cho biết tại triển lãm của mình đã có sự tham dự của “một số đại diện từ Bộ Văn hóa Ý và Hội đồng thành phố Venice”, trong đó có Massimo Faranda, được giới thiệu là “chủ tịch của Italian Museum of Modern and Contemporary Art” (Bảo tàng Ý về nghệ thuật đương đại và hiện đại) cùng các giám tuyển như Paolo De Grandis. Trong bài báo này, Hiếu cũng khẳng định rằng anh đã trải qua một quá trình chuẩn bị dài với sự hỗ trợ của Laura Gallon, người sáng lập Arte Laguna Studio, trước khi được chấp nhận trưng bày tác phẩm tại Venice Biennale. Như anh kể lại:
“Nevertheless, I went through a long and intensive preparation period, with the help of Laura Gallon, founder of Arte Laguna Studio, before being accepted to show my work at the Venice Biennale. Without Laura, I would have been lost in this process. She compiled an anthology of my work and presented it to the president of La Biennale di Venezia.” (Tuy nhiên, tôi đã trải qua một giai đoạn chuẩn bị dài và rất chuyên sâu, với sự giúp đỡ của Laura Gallon – người sáng lập Arte Laguna Studio – trước khi được chấp nhận trưng bày tác phẩm tại Venice Biennale. Nếu không có Laura, tôi có lẽ đã lạc lối trong toàn bộ quá trình này. Cô ấy đã tập hợp một tuyển tập các tác phẩm của tôi và trình bày nó với Chủ tịch của La Biennale di Venezia.)*⁸

Cũng theo bài viết này, Hiếu thậm chí còn được nói rằng sẽ có cơ hội “cạnh tranh giải Sư tử Vàng” (Golden Lion) của Biennale.⁸

Nhưng liệu có tồn tại một tổ chức mang tên “Italian Museum of Modern and Contemporary Art” nơi hai nhân vật này làm việc hay không?

Đáng tiếc là không.

Theo website của MoCA Italia, tổ chức được nhắc đến trong các bài báo thực chất là MoCA Cultural Association, được mô tả là:

“một hiệp hội văn hóa và nghệ thuật gồm các doanh nhân, chuyên gia, nhà sưu tập và những người yêu nghệ thuật đứng sau Arte Laguna Prize và nhiều sáng kiến khác.”⁹

Nói cách khác, đây là một hiệp hội văn hóa tư nhân, được thành lập năm 2006, có khoảng 200 thành viên, hoạt động thông qua mạng lưới thành viên, bán tác phẩm nghệ thuật, tổ chức sự kiện và tìm kiếm tài trợ cho các dự án.

Nó không phải là một bảo tàng; càng không là bảo tàng quốc gia Ý!

4. Lời khen từ Vittorio Sgarbi

Trong nhiều cuộc phỏng vấn, Hiếu cũng nhắc đến lời khen của Vittorio Sgarbi, khi đó là Thứ trưởng Bộ Văn hóa Ý.

Một câu trích dẫn thường được nhắc lại là:

“Sức biểu đạt mạnh mẽ và sự độc đáo trong các tác phẩm của anh như thể đã đưa lịch sử Việt Nam thành dạng thức khái niệm thông qua một cuộc đối thoại mở với hiện tại.”¹

Nhưng sau đó lại xảy ra một sự kiện không mấy may mắn khác.

Năm 2024, Vittorio Sgarbi đã từ chức giữa bê bối. Theo báo The Guardian, ông phải rời vị trí sau khi bị điều tra liên quan đến nghi vấn dính líu đến việc đánh cắp một bức tranh thế kỷ XVII của họa sĩ Rutilio Manetti, cùng với các cáo buộc về xung đột lợi ích và những khoản thù lao diễn thuyết hoặc tham gia các sự kiện văn hoá được cho là khoảng 300.000 euro khi đang giữ chức vụ công.¹⁰

5. “phóng viên kì cựu hơn 30 làm việc cho New York Times - Robertbaldride”
Trong nhiều bài chia sẻ với báo chí Việt Nam như Thể thao & Văn hoá, Lê Hữu Hiếu cho biết “Trong buổi làm việc với phóng viên kì cựu hơn 30 làm việc cho New York Times - Robertbaldride, ông ấy nói đã từng đến Việt Nam vào những năm 2000, chuyến đi theo cựu Tổng thống Bill Clinton đã để lại ấn tượng cực kì sâu sắc. Mặc dù thời gian ở Việt Nam ít những ông thực sự yêu Việt Nam. Ông cũng nói với tôi về việc tại sao ông có mặt ở triển lãm, mặc dù lúc đó việc di chuyển cực kì khó khăn từ Mỹ sang Italy do Covid-19, nhưng ông bảo ông đã quyết tâm vì ngoài công việc cá nhân thì việc có một nghệ sĩ Việt Nam xuất hiện tại Arsenale Nord, Venice khiến ông thấy tò mò”.¹⁰
Theo thông tin tra cứu, The New York Times không có phóng viên kỳ cựu nào trên 30 năm tên Robertbaldride; chỉ có người được cho là làm phóng viên ảnh tên Robert Baldridge. Thông tin chính thức về phóng viên của NYT theo chuyến thăm của Bill Clinton đến Việt Nam năm 2000 cũng không có tên nào như vậy. “Trước khi rời đi, ông ấy đã để lại danh thiếp cho tôi và nói rằng, nếu Việt Nam tham dự Venice Biennale, ông ấy sẽ là người tiên phong quảng bá Việt Nam lên các tạp chí lớn và danh giá nhất trên thế giới. Ông ấy bảo chỉ cần cảm ơn ông ấy bằng việc mời ông ấy một bát Phở”. ¹⁰ Tôi chắc chắn là sự xuất hiện đầu tiên của CHXHCN Việt Nam tại Venice Biennale 61 này là thông tin hấp dẫn, nếu có thêm các tác phẩm chất lượng và chiến lược truyền thông quốc tế tốt, chắc chắn chúng ta cũng không hẳn phải mời phở ai cả!

Như vậy: Sự thật đáng tiếc vào năm 2024 là Lê Hữu Hiếu chưa từng được mời hay trưng bày trong chương trình chính thức của Venice Biennale lần thứ 60.

Trên thực tế, chỉ có hai nghệ sĩ Việt Nam xuất hiện trong chương trình chính thức của Biennale năm đó. Một trong số đó là Lê Phổ (1907–2001) với tác phẩm Jeune fille en blanc (1931) được trưng bày tại Central Pavilion của Biennale Arte 2024 với lời giới thiệu của giám tuyển Phoebe Scott.¹¹
Nghệ sĩ thứ hai là Nguyễn Trinh Thi, với tác phẩm nằm trong dự án Disobedience Archive, giám tuyển bởi Marco Scotini ¹²- cũng là giáo sư của tôi tại NABA.

Và giờ đây, tại Venice Biennale lần thứ 61 (2026), những nỗ lực không mệt mỏi của Lê Hữu Hiếu để xuất hiện chính thức dường như cuối cùng đã đạt được kết quả.

Tên của anh hiện nằm trong danh sách nghệ sĩ của Pavilion Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam — lần đầu tiên Việt Nam có một gian triển lãm quốc gia chính thức tại Venice Biennale.¹³¹⁴

Theo các tài liệu được công bố bởi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam — dù văn bản vẫn còn nhiều lỗi ngữ pháp, diễn đạt — và thông tin đăng tải trên trang tin chính thức của Venice Biennale lần 61 diễn ra từ tháng 5 -11/ 2026, Hiếu sẽ tham gia triển lãm mang tên “Nghệ thuật trong Dòng chảy Toàn cầu” do Đỗ Tường Linh, một trong những giám tuyển Việt Nam được biết đến rộng rãi nhất trên trường quốc tế, phụ trách.

Một số cơ quan báo chí nhà nước như Tiền Phong, Nhân Dân,… hiện lại tiếp tục khẳng định rằng đây là **“lần đầu tiên nghệ sĩ Việt Nam xuất hiện tại Venice Biennale.”**¹²¹³ Trớ trêu thay, chính những cơ quan truyền thông này dường như đã quên mất rằng chỉ cách đây 2-3 năm, họ từng đăng tải các bài báo tuyên bố rằng Lê Hữu Hiếu là “nghệ sĩ Việt Nam đầu tiên được Biennale mời tham dự.”

Khi tôi đang tiến gần đến việc hoàn thành luận văn Thạc sĩ ngành Nghiên cứu nghệ thuật thị giác và giám tuyển với đề tài Sự hiện diện của Việt Nam tại Venice Biennale (1948–2026), thời điểm này đối với tôi trở thành một cơ hội đúng lúc để “chứng kiến khoảnh khắc lịch sử,” như cách nghệ sĩ và giám tuyển Trần Lương nói — để xem liệu CHXHCN Việt Nam “… thiết lập gian triển lãm quốc gia đầu tiên tại Venice Biennale là dấu hiệu rõ rệt cho thấy Việt Nam đã sẵn sàng tham gia vào sân chơi quốc tế, khẳng định mình là một quốc gia có nền tảng văn hóa vững mạnh, năng động và hội nhập sâu rộng. Đây là một bước đi mang tính thời đại, định hướng và dẫn dắt, thể hiện tầm nhìn chiến lược trong việc xây dựng văn hóa nghệ thuật như một trụ cột phát triển bền vững cho nền kinh tế.”¹⁶ (Trích đề án đính kèm Quyết định Số: 4808 /QĐ-BVHTTDL ký ngày 23/12/2025 bởi Thứ trưởng Tạ Quang Đông) xứng đáng với sự chờ đợi mà nhiều người trong chúng ta đã mong mỏi từ lâu hay không.

Hy vọng rằng, cuộc triển lãm này sẽ hoá giải vận xui đeo bám nghệ sĩ Lê Hữu Hiếu tại Venice; và các tác phẩm anh đã trưng bày cho Venice Biennale 60 nào đó năm 2024 như báo chí Việt Nam rôm rả đưa tin trong 3 năm qua sẽ được giám tuyển tích hợp vào dòng chảy nghệ thuật toàn cầu một cách hợp lý với các tác phẩm của các nghệ sĩ VN khác trong pavilion Việt Nam lần này! Nếu thế, trường hợp này quả là điển hình của “Tái ông thất mã”, đến phút chót thì Giả thành Thật; Hay vẫn chẳng bằng Hên của nghệ thuật Việt Nam thế kỷ 21! Và có lẽ trong lịch sử Biennale, nếu các tác phẩm của Hiếu đã được trưng bày ở kỳ 60, lại được trưng bày lại ở kỳ 61, thì quả thực là có một không hai!

(Bài viết dựa trên các bài báo, video trên các báo chính thống tiếng Việt và Anh tại Việt Nam về Lê Hữu Hiếu, các nhân vật được báo chí ghi lại trong các phỏng vấn với anh có tên gọi, chức danh,… có thể không hẳn chính xác do lỗi dịch thuật của nhà báo hoặc bản thân nghệ sĩ (từ tiếng Ý, Anh hoặc Việt). Nếu có sự việc như vậy để dẫn đến các sai lệch, hẳn cũng do… không may).

Phạm Thị Điệp Giang
Milan, 13/3/2026


Chú thích trong comment!
Hình: bên trái, theo thông tin từ báo Vietnamnet (11/3/2026); bên phải từ Thể thao & Văn hoá (29/11/2023)

Việt Nam “lần đầu tiên” có gian triển lãm chính thức tại Venice Biennale - sự kiện nghệ thuật quốc tế hai năm một lần qu...
11/03/2026

Việt Nam “lần đầu tiên” có gian triển lãm chính thức tại Venice Biennale - sự kiện nghệ thuật quốc tế hai năm một lần quan trọng nhất thế giới.
Hình chụp từ website chính thức của sự kiện.
Danh sách giám tuyển và nghệ sĩ đính kèm.
Bạn có biết về lịch sử của Venice Biennale? Điều kiện tuyển chọn và chi phí tham gia sự kiện của các quốc gia?
Tính đến thời điểm này có tổng cộng 99 quốc gia xác nhận tham gia Venice Biennale 2026.
Tại Đông Nam Á, các quốc gia tham gia gồm: Indonesia, Philippines, Singapore, Timor-Leste, và Việt Nam tham gia sự kiện năm nay!

Gánh nặng của sự hiện diện công khai của nghệ thuật ở Việt Nam hiện nayThế lưỡng nan trong việc đo lường thành công của ...
04/03/2026

Gánh nặng của sự hiện diện công khai của nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay

Thế lưỡng nan trong việc đo lường thành công của nghệ sĩ và giám tuyển bằng một lý lịch “triển lãm”

Zoe Butt
Người dịch: Phạm Thị Điệp Giang

Thăm Trường Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đối với tôi giống như bước vào một nghĩa địa xuống cấp và bị lãng quên. Các sinh hoạt của các khoa vẫn còn đó - sinh viên vẫn đến lớp, giảng viên vẫn cần mẫn tham dự các cuộc họp - nhưng mục đích của những sinh hoạt này đã không còn rõ ràng (có những lớp học không có giảng viên đứng lớp, có những giảng viên không thiết lập được chương trình giảng dạy mang tính phản biện). Các khoa này đã trở thành những ngôi mộ trơ trọi, mất đi sự gắn kết, những ký ức bị mất đi trong thủy triều bất hạnh của sự thờ ơ. Ngôi trường này đã trở thành một nghĩa địa bị tái sử dụng để Nhà nước Cộng sản phô bày sự thờ ơ của mình, bởi dường như văn hóa chính là cái g*i trong mắt nó - những người đang kích hoạt văn hóa hôm nay có thể muốn nhìn lại quá khứ để tìm cách đi tiếp. Than ôi, nền kinh tế xã hội chủ nghĩa đầy vấn đề của quốc gia này không thể dung chứa một cái nhìn mang tính phản biện, bởi có quá nhiều “bóng ma” đang tranh giành công lý, và xã hội này lại phụ thuộc quá nhiều vào sự thờ ơ để nuôi dưỡng một cái nhìn duy vật “ru ngủ” (hood-winked). Không, nhà nước này muốn những người máy của mình (người dân của nó) tràn vào thị trường bằng các công thức sẵn có, tiếp tục tiến bước, và vì thế, một cách nguy hiểm, Việt Nam đang trở thành nơi chứa của mọi thứ được sản xuất hàng loạt một cách thành công. Đáng buồn thay, quá nhiều nghệ sĩ ở đây tốt nghiệp với nút “lặp lại” (những nghệ sĩ lặp lại mô-típ của những gì đã bán được, hoặc đôi khi là mô-típ thành công của người khác) như tín hiệu đèn xanh cho thành công - và vì thế số lượng những kẻ sao chép trở nên quá nhiều đến mức Nhà nước giờ đây lo sợ chính người dân của mình sẽ vi phạm bản quyền, đến nỗi sinh viên không còn được phép vào Bảo tàng Mỹ thuật để ký họa những gì đang được (làm khuôn và) trưng bày. Bối cảnh được mô tả này có liên quan trực tiếp đến việc tôi đến gặp một giảng viên cao cấp của Khoa Hội họa, theo lời khuyên của một đồng nghiệp nói rằng ông có sự đặc biệt. Luôn háo hức tìm kiếm thêm tài năng địa phương, tôi đến “xưởng” của ông (tức văn phòng làm việc). Tuy nhiên, những gì tôi được xem lại khá điển hình cho các cửa hàng phục vụ du lịch trên những con phố chính của Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh - hình ảnh kiến trúc truyền thống với người bán hàng rong đội nón lá; phụ nữ mặc áo dài cổ điển nằm tạo dáng gợi cảm bên cửa sổ. Tôi gần như bỏ cuộc, nếu không phải vì một tập bản vẽ ở tận phía sau của một chiếc tủ ló ra trước mắt tôi, mà ông tỏ ra rất miễn cưỡng khi chia sẻ. Tôi thúc ép và nài nỉ - chỉ xem một chút thôi… làm ơn? - và với một ánh nhìn gần như xấu hổ, những bản vẽ ấy được lấy ra, và kìa! Nét vẽ của chúng lỏng, cách trừu tượng hóa các đặc điểm hình thể con người thật sự gợi mở. Sự dè dặt này có thể nghe như một trải nghiệm quen thuộc đối với bất kỳ giám tuyển nào khi đến thăm xưởng của một nghệ sĩ trẻ; tuy nhiên, đây là một giảng viên kỳ cựu, người mà lòng tự trọng của ông khiến ông khẳng định rằng đây chỉ là phác thảo, không phải “nghệ thuật”, đồng thời ông chỉ tay đầy tự hào về các mẫu hội họa mang tính quốc gia với kỹ thuật bậc thầy. Tôi rời đi với một nỗi thất vọng quen thuộc, khi nhận ra rằng, với tư cách là giám tuyển, tôi không có khả năng tác động đến một người tin rằng năng lực của mình phải là một điều gì đó khác với điều mà ông vẫn nghĩ. Nhưng điều này cần thêm một chút bối cảnh. Bởi hẳn bạn sẽ hỏi - tại sao lại như vậy?

Để trả lời câu hỏi đó, trước hết hãy nhìn vào điều thường thúc đẩy một nghệ sĩ (và theo đó là cả giám tuyển) khi họ nói đến thành quả của lao động nghệ thuật.

Trong một nghĩa địa được chăm sóc cẩn thận, luôn có người trông coi và người làm vườn; có thể có nhà quàn và linh mục (cùng với một hệ thống ghi chép xác định ngôi mộ nào thuộc về ai); có thể có những khu đất dành riêng cho từng gia đình, nơi con cháu tiếp tục chăm nom và hương khói cho phần mộ của tổ tiên; cũng có thể có những khu đất được dành làm nơi tưởng niệm một biến cố bi thảm nào đó, nơi mỗi năm cộng đồng lại tụ họp để tưởng nhớ. Đó là những công trình tưởng niệm và những khoảnh khắc công cộng công khai, mang giá trị biểu tượng và ý nghĩa nghi lễ đối với cộng đồng - những nơi người ta tìm đến để tưởng niệm, là nơi an nghỉ cuối cùng của những dấu tích sau thành tựu cả đời, thường gắn với hoặc tưởng nhớ sự dấn thân của họ cho một lý tưởng hay mục đích nào đó. So sánh nghĩa địa với việc hệ thống hóa nghệ thuật có thể nghe có vẻ u ám, nhưng trong bối cảnh Việt Nam, tôi thấy phép so sánh này lại khá xác đáng (dù đáng buồn). Bởi cũng giống như những nghĩa trang đôi khi bị bỏ mặc, không được chăm sóc hoặc thậm chí bị di dời, các chủ thể văn hóa của Việt Nam - nghệ sĩ, tác phẩm của họ, các phòng trưng bày, người viết, nhà phê bình, bảo tàng và thư viện - cũng bị công khai từ chối sự tôn trọng về mặt văn hóa. Những "chủ thể" ấy, (dù còn sống hay đã mất), đều có mong muốn được lên tiếng và hành động, muốn thúc đẩy những thử nghiệm mới; nhưng chính điều đó lại dễ bị xem như biểu hiện của một cá tính mang tính phê phán - thứ luôn khiến Bộ Văn hóa Việt Nam phải cảnh giác. Sự thiếu hiểu biết và thiếu quan tâm của bộ máy này đối với nghệ thuật đương đại bắt nguồn từ nỗi sợ ý thức hệ, cùng với một tầng lớp quản lý xem công việc của mình chủ yếu là giám sát hơn là phát triển; họ hầu như không quan tâm đến lịch sử hay sinh kế của nghệ thuật và những người làm nghệ thuật, (có lẽ thị trường nghệ thuật chính là thứ có thể cứu vãn phần nào tình trạng này; bởi nếu không có nó, trớ trêu thay, tôi e rằng chúng ta thậm chí sẽ không có những nghệ sĩ “có sự hiện diện công khai” (visible artists) để mà nói đến. Dĩ nhiên, Bộ này hiểu rất rõ động lực tiền bạc theo logic tân tự do. Nhưng nếu bạn nói rằng điều bạn đặt lên hàng đầu là câu chuyện phía sau tác phẩm của mình, rằng bạn không quan tâm đến lợi nhuận, thì lập tức họ sẽ nghĩ: À, vậy hẳn là có điều gì đó trong những gì anh đang nói mà chúng tôi phải theo dõi…)

Vậy quay lại câu hỏi đã nêu: vì sao đối với một nghệ sĩ ở Việt Nam, việc suy nghĩ và làm việc vượt ra ngoài những gì được cho phép hiển thị lại là một thách thức? Câu trả lời khá rõ: bởi chúng ta có quá ít hạ tầng được chăm sóc đúng mức để có thể khiến một nghệ sĩ cân nhắc lại con đường của mình. Các bộ sưu tập bảo tàng của chúng ta đang mục ruỗng, nhiều không gian chỉ còn được đem cho thuê; các trường đại học thì thiếu kinh phí nghiêm trọng và thiếu chuyên môn; Bộ Văn hóa chìm trong sự trì trệ và rối rắm quan liêu; còn phần lớn các “chủ phòng tranh” thì chủ yếu rao bán sức hấp dẫn của tính ngoại lai cho khách du lịch và kiếm hàng triệu đồng mà không bị kiểm soát (mà điều đó thì cũng không khó khi tính theo đồng Việt Nam).

Trong một xã hội e dè trước cá tính riêng, nơi công thức được ưa chuộng hơn sự lệch chuẩn, Art (với chữ A viết hoa - ND) đáng buồn thay dễ bị biến thành art (chữ a thường - ND) (đồ trang trí), bởi thế, nghệ thuật mất đi “gia đình” (family) của mình, mất đi dòng dõi lịch sử, ký ức chuyên môn và giá trị văn hóa của nó. Điều này có thể thấy/nghe có vẻ hơi nhẹ lời; nhưng chính ở đây mà lập luận của bài viết này trở nên thú vị hơn. Bởi nếu chúng ta nhìn vào thế giới của cái hiển thị trong phạm vi của “Art” - tức những nghi thức diễn ra trên bề mặt (nếu tiếp tục phép ẩn dụ nghĩa địa) - đặc biệt là "triển lãm", như một dấu mốc lịch sử định danh/tạo nênthành công quốc tế của nghệ sĩ và giám tuyển, thì điều quan trọng là phải đặt câu hỏi về những gì chúng ta không nhìn thấy (những hoạt động diễn ra ngoài luồng (underground), mang tính riêng tư, không được công bố rộng rãi và chỉ phục vụ cho một cộng đồng rất cụ thể). Chính những không gian ẩn này mới là nơi thúc đẩy và định hình lại quá trình sản xuất nghệ thuật và giám tuyển, qua đó góp phần hình thành đời sống xã hội của mỗi cá nhân[1].

Sự tăng trưởng và phát triển của nghệ thuật đương đại ở Việt Nam phụ thuộc nhiều vào các hoạt động tập thể mang tính độc lập; phần lớn các hoạt động này không có danh tính công khai có thể tiếp cận. Vì vậy, nếu xem việc tổ chức triển lãm như thước đo cho những hoạt động tập thể đó, thì chúng ta đã phủ nhận lao động phía sau vô số những cuộc tụ họp trực tiếp không đếm xuể, diễn ra ngoài tầm nhìn nhưng lại có ảnh hưởng quan trọng đối với khả năng một nghệ sĩ hay giám tuyển tiếp tục theo đuổi thực hành của mình. Chẳng hạn như việc tổ chức một triển lãm cá nhân kéo dài ba ngày trong một ngôi nhà sắp bị phá bỏ[2]; những hành động phản kháng được thực hiện trong một tu viện xa xôi để bí mật tưởng niệm những cuốn sách lịch sử[3]; những buổi trình diễn phản đối bằng cách đeo mặt nạ cá nhằm lên tiếng trước sự thờ ơ của nhà nước đối với môi trường địa phương[4]; những buổi phê bình tác phẩm trong mạng lưới bạn bè[5]; những “xưởng mở” dành cho các cộng đồng Facebook riêng tư[6]; hay những buổi trình bày “nội bộ” của các khách mời quốc tế trước một nhóm nhỏ trong cộng đồng ảnh hưởng địa phương[7].

Những hình thức hoạt động này có thể nghe khá quen thuộc trong nhiều bối cảnh nghệ thuật khác trên thế giới. Nhưng ở Việt Nam, chúng có thể bị xem là tiềm ẩn nguy cơ vi phạm pháp luật, do sự nhạy cảm của cơ quan quản lý đối với nội dung đang được thảo luận. Vì thế chính nỗi sợ của sự thể hiện nghệ thuật đã xác định quy mô của tham vọng. Điều này không chỉ áp dụng với nghệ sĩ, mà còn với những người tổ chức và bảo trợ nghệ thuật - các giám tuyển, chủ phòng tranh, giám đốc bảo tàng. Bởi trong bối cảnh Việt Nam, chính người tổ chức sự kiện mới là người bị thẩm vấn và phải chịu trách nhiệm nếu có hành động bị cho là không hợp pháp (chứ không phải nghệ sĩ, dù họ là tác giả). Sự giám sát và áp lực này hiển nhiên làm cản trở và thu hẹp sự phát triển cũng như mối liên hệ của nghệ thuật với cộng đồng địa phương.

Để hiểu rõ hơn thái độ của chính quyền Việt Nam đối với nghệ thuật thị giác, hãy thử nhìn vào cách dịch sát nghĩa của từ “exhibition” trong từ vựng tiếng Việt, đó là “triển lãm”:

triển - mở ra, bày ra.
lãm - xem xét, nhìn kỹ, quan sát.
triển lãm - đồng thời cũng thường mang nghĩa chiếm lĩnh, bao trùm hoặc nắm giữ một thứ gì đó trong toàn bộ của nó[8].

Điều khiến tôi chú ý ở định nghĩa này chính là sự kết hợp của hai yếu tố: sự chiếm lĩnh và tính toàn thể - những khái niệm mang sắc thái của quyền lực, gần như mang tính quân sự. Khi những điều đó nằm trong tay người dân, mà không nằm dưới sự quản lý và chỉ đạo của nhà nước, chúng dễ bị nhìn nhận như một mối đe dọa đối với trật tự đang cầm quyền. Cũng cần nhớ rằng Bộ Văn hóa của Việt Nam vốn là cơ quan kế thừa từ Bộ truyền thông.

Cách chính trị hóa khái niệm “triển lãm” này phần nào gợi nhớ đến nhận định của Christophe Cherix rằng:

“Triển lãm là nơi diễn ra những trao đổi quan trọng trong nền kinh tế chính trị của nghệ thuật - nơi ý nghĩa được hình thành, được duy trì, và đôi khi cũng bị tháo gỡ. Vừa là một dạng trình diễn, vừa là một sự kiện mang tính xã hội - lịch sử, đồng thời cũng là một cấu trúc tổ chức, các triển lãm - đặc biệt là triển lãm nghệ thuật đương đại - thiết lập và điều phối các ý nghĩa văn hóa của nghệ thuật.”[9]

Cherix chủ yếu nói về triển lãm trong bối cảnh lịch sử hiện đại của phương Tây, cùng với những hạ tầng chuyên môn đi kèm như giám tuyển, nhà buôn nghệ thuật, giám đốc bảo tàng, nhà phê bình và nhà sưu tập. Dù những mạng lưới đó đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ký ức lịch sử của “triển lãm” theo cách hiểu của lịch sử nghệ thuật phương Tây, nhưng tôi nhận thấy cách định nghĩa đó không hoàn toàn phù hợp với trải nghiệm của mình ở Việt Nam và với khái niệm triển lãm trong bối cảnh này - và có lẽ điều đó cũng đúng với nhiều nơi khác ở Đông Nam Á.

Thay vào đó, tôi nhớ đến những phân tích của Gao Minglu về việc các nghệ sĩ Trung Quốc rút khỏi không gian công cộng sau vụ thảm sát tại Quảng trường Thiên An Môn. Dưới áp lực kiểm soát chính trị nặng nề, họ buộc phải lui về những không gian chật hẹp trong căn hộ của mình để sáng tác và chia sẻ tác phẩm. Gao gọi hiện tượng này là “Apartment Art” (nghệ thuật căn hộ) hay “Proposal Art” (nghệ thuật đề xuất) — khi các nghệ sĩ sử dụng những vật liệu sẵn có trong đời sống thường ngày và làm việc ngay trong không gian sinh hoạt của mình để tiếp tục thực hành nghệ thuật. Với những nghệ sĩ này - như Zhang Huan, Song D**g hay Yin Xiuzhen - điều đó cũng là một cách để kết nối lại với đời sống xã hội:

“Theo cách đó, những tác phẩm không thể bán và cũng không thể trưng bày của họ phản chiếu môi trường xã hội mà họ đang sống, đồng thời trở thành một dạng khảo sát gần gũi đối với chính xã hội ấy.”[10]

Trong mạch liên tưởng đó, tôi cũng nhớ đến những thực hành tiên phong của một số nghệ sĩ Việt Nam vào đầu những năm 2000 tại Hà Nội, như Trần Lương với dự án "Dự án Nghệ thuật Mạo Khê" (Mao Khe Art Project, 2001), Trương Tân với "Vẻ đẹp ẩn giấu"(Hidden Beauty, 2007), hay Nguyễn Minh Phước với "Con rồng bất hạnh" (Unhappy Dragon, 2007). Họ làm việc với những cộng đồng bị gạt ra bên lề hoặc với những hình thức phân biệt đối xử trong xã hội, tạo ra các tác phẩm mà vào thời điểm đó bị xem là vượt ra ngoài khả năng tiêu thụ của thị trường và thường chỉ được giới thiệu trong những không gian riêng tư. Những tác phẩm điêu khắc, video và sắp đặt của họ phản ánh trật tự xã hội lúc bấy giờ; “nghệ thuật” của họ ban đầu được biết đến trước hết như những hành động bị cấm đoán hoặc bị xem là nhạy cảm về mặt chính trị.

Dĩ nhiên, việc đặt song song lịch sử phát triển của nghệ thuật Trung Quốc và Việt Nam là điều không hoàn toàn công bằng, bởi quy mô cộng đồng nghệ thuật, hệ tư tưởng cũng như hệ thống đào tạo của hai nước rất khác nhau. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là những câu chuyện phản kháng ban đầu đối với các áp lực chính trị và thị trường trong nghệ thuật ở Trung Quốc và Việt Nam lại đã đi theo hai hướng rất khác nhau trong bối cảnh ngày nay. Trong khi Trung Quốc tận dụng làn sóng quan tâm mạnh mẽ của phương Tây vào đầu những năm 2000 và hàng loạt các triển lãm khảo sát quốc tế về nghệ thuật đương đại Trung Quốc sau đó - để hình thành nên một bối cảnh nghệ thuật cạnh tranh và đa dạng, với sự đầu tư công và tư vào việc xây dựng bảo tàng và trung tâm văn hóa, các trường mỹ thuật có trao đổi quốc tế và đối thoại học thuật, cùng một thị trường nghệ thuật thương mại toàn cầu có quy mô đáng kể (dĩ nhiên vẫn đi kèm những phức tạp riêng của hệ thống quản lý nhà nước).

Trong khi đó, lĩnh vực văn hóa của Việt Nam vẫn luôn nghi ngờ các dự án, triển lãm hay tổ chức được tài trợ từ nước ngoài, và tiếp tục làm chậm lại những tiến trình phát triển bởi nỗi sợ ý thức hệ cùng những khó khăn kinh tế - dường như bị mắc kẹt trong một tâm thế hậu thuộc địa, nơi việc ngăn chặn được ưu tiên hơn việc xây dựng, việc phòng thủ được đặt lên trước việc dẫn dắt; đồng thời lại đặt thẩm mỹ dưới sự chi phối của tầng lớp tiêu dùng (một kiểu chủ nghĩa cộng sản mang đặc điểm tư bản chủ nghĩa, có phần khá trớ trêu).

Vậy quay trở lại với “gánh nặng của sự hiển thị”, có lẽ bạn sẽ hỏi vì sao một nghệ sĩ hay một giám tuyển lại muốn tiếp tục làm việc trong một bối cảnh như vậy. Câu trả lời khá đơn giản: đối với nhiều người, họ không có lựa chọn nào khác. Nhưng đối với tôi - với tư cách là một người được mời đến làm việc và có đặc quyền lựa chọn - việc cùng tồn tại và làm việc trong những điều kiện như vậy (cùng nhau khơi gợi, kết nối, nuôi dưỡng và lắng nghe) lại mang đến những bài học đặc biệt mỗi ngày. Điều đó buộc tôi phải liên tục đặt lại câu hỏi về phương pháp và ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng để duy trì đời sống văn hóa trong một xã hội như thế này.

Tôi luôn bị ấn tượng - và cũng được truyền cảm hứng - bởi việc có quá nhiều cộng đồng ở các nước Nam bán cầu phải đối diện với những hoàn cảnh tương tự (Campuchia, Senegal, Nigeria, Malaysia, Ecuador, Iraq, Afghanistan và nhiều nơi khác). Đồng thời, tôi cũng nhận ra rằng những cuốn sách tổng kết về ngành nghệ thuật mà chúng ta có thể tiếp cận và lưu hành lại hiếm khi phản ánh hoặc phân tích một cách thỏa đáng sự bền bỉ của những cộng đồng này trong việc tồn tại giữa những biến động xã hội và chính trị ngày nay.

Nếu tôi tin vào việc xây dựng cộng đồng cho nghệ thuật - và tôi thực sự tin như vậy - thì tôi cũng phải hiểu rằng không thể có một hình thức sản xuất nghệ thuật đồng nhất ở khắp mọi nơi (cũng giống như không thể kỳ vọng rằng các xã hội khác nhau sẽ vận hành văn hóa theo cùng một cách). Vì vậy, trong tương lai, tôi hy vọng rằng việc nghiên cứu con đường hành nghề của nghệ sĩ và giám tuyển sẽ được mở rộng, vượt ra ngoài những dòng ghi chép trong lý lịch nghề nghiệp vốn chỉ liệt kê các triển lãm đã tham gia, các giải thưởng đạt được hay sự xuất hiện tại các hội chợ nghệ thuật.

Bên cạnh những thành tựu đó - bởi chúng ta cũng không thể phủ nhận ý nghĩa của chúng - tôi mong rằng chúng ta sẽ chú ý nhiều hơn đến phần lao động không nhìn thấy trong thực hành của nghệ sĩ và giám tuyển. Điều đó có nghĩa là trong các triển lãm và văn bản của mình, chúng ta cần thừa nhận rằng việc làm nghệ thuật trong những cộng đồng địa phương đầy hạn chế luôn đi kèm với nhiều dạng cam kết khác nhau: những cuộc thương lượng để có thể tiếp cận an toàn với các chủ đề và con người; những mối quan hệ chính trị cần được duy trì cẩn trọng để các tổ chức có thể tồn tại hợp pháp; những hoạt động cố vấn riêng tư dành cho các nghệ sĩ trẻ; những nỗ lực vận động để tìm kiếm các nguồn hỗ trợ tiềm năng; những hỗ trợ tinh thần để khích lệ thực hành nghệ thuật; những quan hệ hợp tác nhằm duy trì tính bền vững; hay những chương trình giáo dục được xây dựng với hy vọng nuôi dưỡng tư duy phản biện… và còn nhiều điều khác nữa.

Một danh sách như vậy có thể nghe có vẻ hiển nhiên đối với những nơi trên thế giới có hạ tầng văn hóa đã được chăm sóc và kết nối tốt. Nhưng một lần nữa, tôi muốn nhấn mạnh rằng việc thực hiện những công việc này trong những bối cảnh bị tước đoạt quyền lực văn hóa và nghèo nàn về chính trị luôn là một trạng thái chênh vênh giữa hợp pháp và không hợp pháp - giữa những quy định mơ hồ về quyền tiếp cận chính thức và những kỳ vọng xã hội; giữa những mối quan hệ cá nhân dựa trên niềm tin và nghĩa vụ.

Nếu có điều gì tôi học được từ việc sống trong sự đa dạng rực rỡ của một xã hội đang tìm cách thoát khỏi di sản thuộc địa, thì đó chính là sức bền của các nghi lễ văn hóa và tâm linh, cũng như sự tôn trọng sâu sắc đối với những quy tắc ứng xử giữa người sống và người đã khuất. Vì thế tôi hy vọng rằng một ngày nào đó, Việt Nam sẽ có những nhà lãnh đạo hiểu rằng sống cùng những bóng ma đã được hòa giải về mặt văn hóa thì tốt hơn là để những bóng ma tiếp tục nhân lên trong phản kháng.

Chú thích:

1.“Sự cá thể hoá không đối lập với xã hội, mà chỉ phát triển thông qua xã hội. Người ta không cần một hòn đảo hoang để trở thành một cá thể; ngược lại, cần đến cả một thành phố.” Jason Read, “Sự cá thể hoá của cái chung” (The Individuation of the Common), trong Cái chung / Undercommons (các cộng đồng ngoài luồng) trong nghệ thuật, giáo dục và lao động (The Commons / Undercommons in Art, Education, Work), số chuyên đề, TkH - Journal for Performing Arts Theory, 23 (tháng 4 năm 2016): 26.

2. Năm 2017, nghệ sĩ Sài Gòn Phan Anh đã tổ chức một triển lãm cá nhân kéo dài một tuần mang tên "Bảo tàng của tâm trí"(Museum of Mind) trong một ngôi nhà dân đã xuống cấp và sắp bị phá dỡ tại quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Năm 2008, Zenei Gang of Five (nhóm Ngũ tử Tiền Vệ) đã thực hiện sắp đặt "Mộ sách" (Book Grave) trong một ngôi chùa Phật giáo xa trung tâm Hà Nội, như một lời than thở về mối quan hệ rời rạc và đầy nghi kỵ của Việt Nam đối với văn học.

4. Năm 2016, nghệ sĩ Huế Trần Tuấn đã phát các khẩu trang chống ô nhiễm có in hình con cá trên mỗi chiếc, nhờ bạn bè nghệ sĩ giúp phân phát chúng trên khắp Việt Nam như một hành động phản kháng trước thảm họa môi trường biển năm 2016 - sự kiện khiến hàng tấn sinh vật biển chết và gây tổn hại nghiêm trọng đến sinh kế của ngư dân. Công ty thép Formosa thuộc sở hữu Đài Loan sau đó được xác định là bên chịu trách nhiệm.

5. Sự kiện này lần đầu được tổ chức bởi Sàn Art như một phần của chương trình lưu trú Sàn Art Laboratory, và ngày nay đã trở thành một hoạt động thường xuyên trong cộng đồng nghệ thuật Sài Gòn.

6. Trong khuôn khổ Sàn Art Laboratory, Sàn Art tổ chức chương trình “Open Studios”, một điểm gặp gỡ để các nghệ sĩ đã có kinh nghiệm tương tác với những tài năng mới nổi, đồng thời giới thiệu và chia sẻ các quan sát cũng như ý tưởng của họ. Đây cũng là nơi các học giả trong và ngoài nước thường gặp gỡ; tuy nhiên, đáng tiếc là sự kiện này cũng từng trở thành đối tượng theo dõi của An ninh văn hoá Việt Nam.

7. Phần lớn cộng đồng nghệ thuật Sài Gòn đã phát triển từ những thông báo truyền miệng về các cuộc gặp gỡ thân mật giữa bạn bè - nơi họ đến để lắng nghe những chia sẻ chuyên môn từ các khách mời quốc tế (thường ghé thăm thành phố trong các kỳ nghỉ) và hào phóng tiếp tục chia sẻ ý tưởng của mình với những người địa phương luôn khao khát học hỏi.

8. Xin cảm ơn nghệ sĩ và dịch giả Lương Ngọc Trâm, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019.

9. Christophe Cherix, trong Hans Ulrich Obrist, Lược sử giám tuyển (A Brief History of Curating) (Zurich: JRP Ringier, 2008), tr. 7.

10. Gao Minglu, Tính hiện đại toàn diện và Tiền phong trong nghệ thuật Trung Quốc thế kỷ XX (Total Modernity and the Avant-Garde in Twentieth-Century Chinese Art) (London: MIT Press, 2011), tr. 7.

(Nguồn: Bản dịch từ bài viết “Gánh nặng của sự hiện diện công khai của nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay”, Zoe Butt, trong cuốn “Từ lịch sử các triển lãm hướng tới tương lai của việc tạo lập triển lãm: Trung Quốc và Đông Nam Á”, biên tập bởi Biljana Ciric (Berlin: Sternberg Press, 2019).)

Zoe Butt từng là Giám đốc Nghệ thuật của The Factory Contemporary Arts Centre (hiện không còn cập nhật hoạt đông kể từ tháng 3/2023), Thành phố Hồ Chí Minh (2017–2021), và trước đó là Giám đốc Điều hành kiêm Giám tuyển của Sàn Art (đã đóng cửa vô thời hạn từ thông báo 20/4/2024), Thành phố Hồ Chí Minh (2009–2016) (ND).

Address

Tesla 3-38 Khu Do Thi Thanh Pho Ca Phe, Duong Nguyen Dinh Chieu, Phuong Tan Loi, Tp Buon Ma Thuot, Dak Lak
Buon Me Thuot

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Zanga Arts Space posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Zanga Arts Space:

Share