06/11/2023
LỊCH SỬ THƯ PHÁP VIỆT NAM
__________
Thư pháp có nghĩa ban đầu là phương pháp viết chữ chuẩn xác, cho đẹp, nhưng cùng với thời gian, thư pháp đã vượt ra khỏi ý nghĩa ban đầu và trở thành nghệ thuật viết chữ cách điệu, tạo ra những hình tượng nghệ thuật thể hiện ý tứ sâu xa của tác giả. Thư Pháp vốn xuất thân từ Trung Hoa và được du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu Công nguyên thời nhà Hán. Tác phẩm Thư pháp đầu tiên của Việt Nam được tìm thấy là dòng chữ “Đại Tuỳ Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn” đắp theo lối chữ “triện” trên trán bia ở làng Trường Xuân (Thanh Hóa). Tác phẩm Thư pháp này hiện đang được trưng bày ở viện bảo tàng lịch sử.
Lịch sử hình thành nghệ thuật Thư pháp chữ Hán tại Việt Nam tương tự bộ môn thư pháp tại Trung Hoa song việc biểu hiện mỹ cảm lại có những điểm tương đối khác biệt như: Nét bút mềm mại mà không yếu đuối, sâu lắng mà không trầm tích, phóng mà không cuồng. Để viết được thư pháp bằng chữ Hán người viết cần phải am hiểu về ý nghĩa của các chữ, có nền tảng kiến thức thâm sâu về kết hợp và phân bố hình khối, tạo dáng chữ qua từng đường nét.
Khác với nghệ thuật Thư pháp chữ Hán, Thư pháp chữ Việt không nằm trong khuôn khổ mà tự do, phá cách nhiều hơn. Tính biểu cảm trong nghệ thuật Thư pháp chữ Việt thể hiện khá rõ nét, thẩm mỹ của người viết cũng như thị hiếu của người thưởng lãm thường hướng đến sự đơn giản hài hòa bình dị, mang chất thơ, chất lãng mạn. Nội dung trong Thư pháp chữ Việt thường là ca dao, tục ngữ, những lời dạy của danh nhân, những bài thơ giàu chất trữ tình… Mỗi tác phẩm Thư pháp chữ Việt tùy vào cảm xúc, suy nghĩ nội tâm của người viết mà tạo nên khi là bức thư họa với sắc thái nhẹ nhàng thanh thoát nhưng có khi là bức thư họa ảo điệu khói sương… khiến người thưởng lãm bức thư họa như lạc vào thế giới nghệ thuật trầm ảo và lắng đọng.
Thư pháp chữ Việt được thể hiện trên nhiều chất liệu như: Giấy, vải, gỗ, đá, trái cây, tranh tre, khảm trai và cả trên gốm sứ. Thư Pháp chữ Việt được phổ cập, đi theo hai hướng: Hướng thứ nhất, xuất phát từ sự hoài niệm về một thời ngự trị của chữ Hán, chữ Nôm. Những nghệ nhân đã biểu đạt hình thức chữ Việt (với các mẫu tự Latinh) theo các khối hình tròn hoặc vuông của chữ Hán hoặc kiểu chữ viết “ngược” chỉ đọc được dễ dàng khi nhìn phía sau trang giấy. Hướng thứ hai, biểu đạt hình thức chữ Việt theo dạng chữ viết vốn có nguồn gốc từ Phương Tây dùng cho hệ thống mẫu tự Latinh. Trong xu hướng này có sự sáng tạo mang tính đột phá khi kết hợp cái thần của ngọn bút lông với nét chữ quốc ngữ để tạo ra nghệ thuật Thư pháp chữ Việt hiện đại mà chúng ta thấy ngày nay.